Tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Like để cảm ơn người viết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ Đại hội lần thứ IV của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (năm 1984) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, đảm bảo nguyên tắc hạch toán kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới, các DNNN có quyền tự chủ thực sự, hạch toán kinh doanh, thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội, tiến hành kinh doanh theo pháp luật cũng như việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả, trên cơ sở đó có thể phát triển ổn định và từng bước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân viên chức, tăng tích lũy cho doanh nghiệp và cho nhà nước.

Việc thực hiện đổi mới quản lý DNNN ở CHDCND Lào năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Các DNNN đã được tổ chức và sắp xếp lại, vừa đổi mới cơ chế quản lý, vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh, chuyển đổi sở hữu một phần. Trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động của các DNNN để tổ chức lại sản xuất kinh doanh cho phù hợp, các biện pháp của Nhà nước Lào đã được triển khai theo hướng phát triển những DNNN quan trọng, nòng cốt cần phải duy trì 100% vốn nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp của nhà nước; những DNNN không cần duy trì 100% vốn nhà nước được chuyển đổi cơ cấu sở hữu và những doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ kéo dài được xử lý thích hợp. Kết quả hoạt động của những doanh nghiệp này đã có nhiều chuyển biến tích cực. Vấn đề then chốt là lần đầu tiên DNNN được trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về hiệu quả quản lý của mình.

Mặc dù đã có bước đổi mới quản lý và tổ chức lại nhưng thực trạng các DNNN cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề. Sự phát triển các DNNN chưa tương xứng với tiềm năng, quá trình đổi mới tổ chức quản lý chưa được tiến hành một cách cơ bản, đồng bộ và chưa trở thành một nhân tố tích cực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc cải cách kinh tế của Lào theo hình thức chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường. Nhà nước chưa có cơ chế phù hợp, làm cho một số DNNN làm ăn vẫn kém hiệu quả, các DNNN chưa thực hiện được chức năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Cho đến nay, mặc dù đã có những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước nhưng trong thực tiễn về quản lý còn lúng túng, còn phát sinh và tồn tại nhiều yếu tố cản trở, nhất là về chính sách, thể chế, thủ tục hành chính, điều kiện, môi trường sản xuất kinh doanh còn nhiều điều chưa rõ ràng, không những không khuyến khích mà còn gây cản trở các DNNN trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Khung khổ pháp lý quản lý DNNN còn nhiều điểm hạn chế tính chủ động của doanh nghiệp. Các vấn đề như cơ cấu, tổ chức doanh nghiệp, mô hình công ty, tổng công ty, quyền đại diện chủ sở hữu tài sản nhà nước tại DNNN… còn nhiều điểm chưa được quy định rõ ràng hoặc chưa phù hợp với thực tế; cơ chế, chính sách quản lý DNNN còn chồng chéo, chưa hiệu quả, bộc lộ nhiều kẽ hở, còn để thất thoát tài sản của nhà nước…

Để DNNN phát huy được tốt vai trò chủ đạo của mình, làm chỗ dựa cho Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế một cách có hiệu lực và hiệu quả, cần phải đổi mới tổ chức quản lý, một mặt phải tiếp tục sắp xếp lại các DNNN, cơ cấu lại, phát triển thêm, mặt khác, cần đổi mới cơ chế quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNN được chủ động sáng tạo. Đây là vấn đề rất cần thiết đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và CHDCND Lào. Vì vậy, tôi chọn đề tài “T chc, qun lý doanh nghip nhà nước trong nn kinh tế th trường Cng hòa dân ch nhân dân Lào” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu bức xúc trước mắt và lâu dài.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự tham gia của nhà nước vào kinh doanh (hình thành nên các DNNN) đã phát triển từ lâu trong nền kinh tế các nước, kể cả các nước theo mô hình TBCN và các nước XHCN. Tuy nhiên, việc nhà nước sử dụng các DNNN tham gia vào kinh doanh đã gây nên sự tranh luận sôi nổi và chưa có kêt thúc. Một mặt, sự tham gia của DNNN vào hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra như một tất yếu khách quan vừa góp phần khẳng định quyền lực của nhà nước vừa hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường tự do, giúp nhiều nước đạt được hiệu quả kinh tế, tạo ra tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội; mặt khác DNNN ở hầu hết các nước đều hoạt động kém hiệu quả hơn các doanh nghiệp tư nhân, thường là nguyên nhân dẫn đến thâm hụt ngân sách, làm giảm hiệu quả chung của nền kinh tế. Do vậy, từ giữa thế kỷ XX, nhiều học giả và giới hoạch định chính sách rất quan tâm về đề tài này và đã có nhiều công trình nghiên cứu về nó. Kết quả là hàng loạt các công trình được công bố, từ sách giáo khoa, luận án, sách, báo cáo chuyên đề, các bài báo… về chủ đề này.

Có thể mô tả tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài theo ba mảng công trình sau đây:

 Mng th nht: Các công trình nghiên cu tiếng nước ngoài (trong đó, có một phần nhỏ đã được dịch ra tiếng Việt). Các công trình này đã nghiên cứu các vấn đề sau:

– Luận chứng cơ sở lý luận của DNNN trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế hỗn hợp nói riêng. Theo hướng này nhiều nội dung khoa học được nghiên cứu và công bố rộng rãi trong các ấn phẩm từ sách giáo khoa đến các chuyên khảo, bài báo, báo cáo chuyên đề. Điển hình trong loạt công trình này là: Ngân hàng Thế giới (1997), Gii quan chc trong kinh doanh – ý nghĩa kinh tế và chính tr ca s hu nhà nước; Trương Văn Bân (1996), Bàn v ci cách toàn din doanh nghip nhà nước; Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong mt thế gii đang chuyn đổi; V.Ramanadhan (1989), The Economics of Public Enterprise; P. Tonielli (2000), The Rise and Falle of Stated – Owned Enterprises in Western World. Nhìn chung, các công trình tương đối thống nhất khi cho rằng, trong nền kinh tế hỗn hợp, cần thiết phải có DNNN tham gia vào kinh doanh với tư cách như một hình thức, một công cụ can thiệp của chính phủ (Nhà nước) vào nền kinh tế thị trường. Nội dung lý luận còn gây tranh luận và ý kiến khác nhau chính là mức độ, phạm vi hoạt động của DNNN, cơ chế quản lý DNNN, các yếu tố quyết định đến chính sách tăng cường sự tham gia của DNNN quốc hữu hóa hoặc giảm bớt DNNN (tư nhân hóa hoặc phi nhà nước hóa), các biện pháp hiệu quả khi thực hiện tư nhân hóa DNNN…

– Từ thập niên 90 của thế kỷ XX, khi các nước SNG và Đông Âu cũng như các nước XHCN khác thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nổi lên nhiều công trình nghiên cứu về DNNN. Ở các nền kinh tế chuyển đổi, các công trình nghiên cứu về mảng vấn đề này vẫn tiếp tục được công bố. Nội dung của các công trình này tập trung vào lý giải năm vấn đề chính sau: sự tất yếu phải điều chỉnh khu vực DNNN (cổ phần hóa, tư nhân hóa) ở các nền kinh tế chuyển đổi; tác động của việc điều chỉnh DNNN đến nền kinh tế các nước; các hình thức, kinh nghiệm và kỹ thuật tư nhân hóa; sự khó khăn thực hiện của các công trình này, giải pháp cổ phần hóa, tư nhân hóa quy mô lớn; xác lập cơ chế quản lý DNNN trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Các kết quả nghiên cứu ở mảng này rất có ích cho Việt Nam cũng như CHDCND Lào. Tuy nhiên, do những đặc thù khác nhau, mục tiêu và lộ trình cải cách khác nhau nên sự vận dụng kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu mảng này vào thực tiễn Việt Nam cũng như CHDCND Lào có những hạn chế đáng kể. Điều này xuất phát từ đặc thù của Lào có quy mô DNNN khá khiêm tốn và việc tổ chức DNNN rất dàn trải, manh mún, quản lý tùy tiện.

– Về DNNN ở Trung Quốc, có rất nhiều học giả Trung Quốc và nước ngoài nghiên cứu trường hợp Trung Quốc và đi đến các kết luận có căn cứ khoa học về đổi mới DNNN, cơ chế quản lý DNNN ở Trung Quốc. Từ năm 1998, các nghiên cứu của Trung Quốc đã có bước đột phá lớn, xây dựng cơ sở lý luận cho bước cải cách kinh tế toàn diện đối với DNNN và đặc biệt là xác lập cơ chế quản lý DNNN ở Trung Quốc. Quan điểm mới nhất ở mảng công trình Trung Quốc là quan điểm “rút lui toàn diện doanh nghiệp nhà nước khỏi các ngành cạnh tranh”. Mặc dù mô hình cải cách của Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam và Lào nhưng đặc thù của Lào vẫn không cho phép vận dụng máy móc các bài học của Trung Quốc.

Mng th hai: Nghiên cu ti Vit Nam. Những công trình nghiên cứu về DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam thực sự được bắt đầu từ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, khi công cuộc đổi mới của Việt Nam được khẳng định và triển khai trên thực tế. Các biện pháp chính sách, cơ chế và tổ chức đối với DNNN luôn được coi là các biện pháp trọng tâm của quá trình đổi mới cơ chế quản lý và chúng được coi là các biện pháp trọng tâm của quá trình đổi mới cơ chế quản lý và chúng được nghiên cứu, triển khai thành ba giai đoạn: giai đoạn thương mại hóa các DNNN (đánh dấu bởi Quyết định 271/HĐBT), giai đoạn sắp xếp lại DNNN đợt 1 (theo Nghị định 388/HĐBT) và giai đoạn sắp xếp lại đợt 2 (từ năm 1998 đến nay). Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu (từ luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đến các bài báo, sách chuyên khảo, đề tài khoa học – công nghệ cấp bộ, cấp nhà nước) đề cập đến vấn đề này, đặc biệt trong vài năm gần đây. Những kết quả nghiên cứu mới nhất ở các công trình nghiên cứu này có thể nêu vắn tắt ở năm nội dung sau: Th nht, đã luận chứng sự cần thiết của DNNN trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam nói riêng. Một số công trình còn có những luận chứng chỉ rõ những khu vực nào cần có DNNN và lý giải về vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai gần. Th hai, một số công trình trong vài năm trở lại đây, dựa trên lý luận mới, bắt đầu luận chứng về phạm trù kinh tế nhà nước và lý giải sự khác nhau cả về nội hàm lẫn phương thức thể hiện giữa phạm trù kinh tế nhà nước và các phạm trù sở hữu nhà nước, DNNN. Cách tiếp cận này cho phép lý giải được xu hướng phát triển gần đây của DNNN và các hình thức tồn tại khác của kinh tế nhà nước trong quá trình vận động của nền kinh tế. Quan điểm mới này đã đi đến kết luận rất đáng chú ý: Kinh tế nhà nước vói ni hàm rt rng mi có vai trò ch đạo, còn DNNN vi tư cách là mt b phn ca kinh tế nhà nước ch vai trò nht định và nó ch đóng vai trò ch đạo mt s lĩnh vc cn thiết. Th ba, nhiều công trình đã tổng kết đánh giá quá trình phát triển, đánh giá các biện pháp tổ chức, quản lý và hiện trạng DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua, nêu rõ sự cần thiết phải cải tổ khu vực này. Các đánh giá ở nhiều công trình tương đối thống nhất với nhau, mặc dù còn nhiều ý kiến tranh luận xung quanh việc phân tích nguyên nhân của tình hình và tiêu chí đánh giá bản thân DNNN cũng như các biện pháp quản lý. Th tư, luận chứng về các giải pháp tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo các hướng: phân loại doanh nghiệp, thành lập tổng công ty, cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu DNNN. Th  năm, luận chứng về các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước đối với DNNN, các hình thức xác lập quyền sở hữu của nhà nước tại DNNN. Nhìn chung, thấy rõ là đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này nhưng quan điểm, ý kiến còn chưa thống nhất. Thậm chí, có thể nói rằng, nhiều vấn đề cốt lõi về chủ đề này như xác định vai trò của DNNN, quy mô và phạm vi của DNNN… thường hay bị né tránh hoặc tiếp cận theo tư duy cũ của mô hình tập trung bao cấp. Cơ sở lý luận và các giải pháp tổng thể về tổ chức, quản lý DNNN cũng chưa được giải quyết triệt để, thấu đáo. Các công trình còn mang nặng tính chất mô tả thực chứng, chưa có các phân tích giải pháp chuẩn tắc đủ tầm cỡ định hướng cho chỉ đạo thực tiễn. Về các kiến nghị cụ thể, mới chỉ dừng lại ở cấp độ chung chung, định hướng hoặc có đưa ra những giải pháp cụ thể nhưng lại thiếu luận chứng chặt chẽ giữa giải pháp và cơ sở lý luận về DNNN trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Có sự mâu thuẫn rõ rệt giữa lý luận về vai trò của DNNN với thực tiễn chính sách và các giải pháp đã áp dụng trên thực tế đối với khu vực này.

Mng th ba. Đề tài v DNNN và đổi mi DNNN CHDCND Lào còn ít được nghiên cu. Từ trước đến nay, chỉ có một vài công  trình khoa học công bố như: “Mt s vn đề cơ bn v sp xếp li và đổi mi qun lý DNNN CHDCND Lào” của Thoong Sa Lit, luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế, Hà Nội, 1995; “Các bin pháp t chc li DNNN, thc hin chiến lược phát trin kinh tế“, Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia Lào, 1999; “Nâng cao cht lượng qun lý DNNN CHDCND Lào” UBKHNN và Tài chính, 12/1999; “Kinh doanh ca DNNN” Ban chỉ đạo Trung ương, 10/2001…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về DNNN ở Lào tương đối thống nhất với nhau ở kết luận cho rằng, trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cần phải đổi mới cách làm ăn (cơ chế quản lý) của DNNN từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường với DNNN kinh doanh tự chủ. Về mặt tổ chức, cần có những biện pháp sắp xếp lại như cổ phần hóa, tư nhân hóa, sáp nhập, giải thể…

Ngoài những điểm chung được thừa nhận về mặt khoa học, về chủ đề DNNN nói chung và về tổ chức, quản lý DNNN trong điều kiện cụ thể hiện nay nói riêng, còn nhiều vấn đề gây tranh luận và ý kiến khác nhau. Đó là mức độ, phạm vi tổ chức, cơ chế quản lý, các ưu đãi cần thiết, chiến lược phát triển, các biện pháp cổ phần hóa và tư nhân hóa DNNN… Về các kiến nghị mang tính giải pháp, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở cấp độ chung chung, định hướng hoặc có đưa ra những giải pháp cụ thể nhưng lại thiếu luận chứng chặt chẽ giữa giải pháp và cơ sở lý luận về tổ chức DNNN…

Các kết quả nghiên cứu của thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam ở mảng này rất có ích cho CHDCND Lào, nhưng do dặc thù khác nhau, mục tiêu khác nhau, nên sự vận dụng các kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu vào điều kiện cụ thể của CHDCND Lào có những hạn chế đáng kể.

Xuất phát từ các yêu cầu phát triển kinh tế, từ đặc thù DNNN của đất nước Lào, chúng tôi chọn đề tài và đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức, quản lý DNNN vì trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước Lào, khu vực kinh tế nhà nước đã và vẫn sẽ giữ vị trí lãnh đạo. Tuy nhiên, các DNNN – bộ phận chủ yếu của kinh tế nhà nước lại rất yếu kém, không hiệu quả. Để các DNNN với tư cách là bộ phận cấu thành cơ bản của kinh tế nhà nước có thể đảm nhận vai trò của mình thì cần phải đổi mới toàn diện từ quan điểm đến cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý, làm sao để các DNNN hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả cao hơn, sức cạnh tranh cao hơn, góp phần tăng hiệu quả chung của nền kinh tế.

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Mc đích ca lun án:

+ Làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức, quản lý DNNN trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

+ Phân tích tình hình tổ chức, quản lý và thực trạng phát triển của các DNNN ở Lào.

+ Luận chứng những giải pháp thích hợp nhằm sắp xếp lại và đổi mới tổ chức, quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN ở CHDCND Lào.

Nhim v ca lun án:

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về DNNN;

+ Phân tích quá trình hình thành, phát triển các DNNN, thực trạng công tác tổ chức, quản lý DNNN ở CHDCND Lào;

+ Chỉ ra những thành tựu ban đầu, những tồn tại, hạn chế hiện nay của DNNN; cũng như công tác tổ chức, quản lý DNNN của Nhà nước Lào.

+ Đề xuất phương hướng và giải pháp về đổi mới tổ chức quản lý DNNN ở Lào.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cu: Chỉ tập trung nghiên cứu các khía cạnh quan hệ tổ chức, quản lý các DNNN (SOE) ở CHDCND Lào từ khi bắt đầu đổi mới (1988) đến nay.

Phm vi nghiên cu: Phạm vi nghiên cứu của luận án bao hàm chủ yếu là khía cạnh tổ chức, quản lý của Nhà nước đối với DNNN và quản lý nhà nước đối với khu vực này trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Về ngữ nghĩa, “tổ chức, quản lý” có thể hiểu dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể hiểu dưới góc độ quản trị vi mô. Trong luận án này, chủ yếu tập trung vào khía cạnh tổ chức, quản lý của Nhà nước vừa với tư cách là chủ sở hữu cuối cùng đối với DNNN, vừa là cơ quan sử dụng DNNN như một công cụ quản lý vĩ mô của mình, vừa là cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã xác định, luận án có đề cập một phần đến giải pháp quản trị để bảo đảm tính hệ thống của hệ thống giải pháp. Về không gian, không đi sâu vào hoạt động cụ thể của từng ngành, từng DNNN mà khảo sát tổng thể DNNN nói chung ở CHDCND Lào. Thời gian chủ yếu được khảo sát từ năm 1988 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

– Luận án được thực hiện:

+ Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào cũng như Đảng và Nhà nước Việt Nam.

+ Kết hợp hợp lý những thành tựu nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn liên quan.

+ Phương pháp duy vật biện chứng, lịch sử, truyền thống, hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…

6. Những đóng góp của luận án

– Làm rõ những luận cứ khoa học về tổ chức, quản lý DNNN trong nền kinh tế thị trường với điều kiện cụ thể ở CHDCND Lào.

– Phân tích những tồn tại, yếu kém, rút ra những kinh nghiệm, luận chứng các định hướng và giải pháp có ý nghĩa thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ở Lào.

7. Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 3 chương, 9 tiết.


Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ DNNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Để làm rõ quan niệm về DNNN, xin bắt đầu từ khái niệm doanh nghiệp với tư cách là khái niệm chung, từ đó hiểu khái niệm DNNN.

V doanh nghip: Theo nghĩa chung nhất, doanh nghiệp là các đơn vị kinh tế cơ sở có chức năng sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trường nhằm đạt lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế – xã hội tối đa [48, tr. 149].

Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế quốc gia Cộng hòa Pháp (INSEE) cho rằng: “Doanh nghiệp là một tác nhân kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra các của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán” [27, tr. 5]. Định nghĩa này bao hàm trong nó một nội hàm rất rộng, tức là tất cả các tác nhân dù chỉ là một người, một hội hay một tổ chức đa quốc gia dù là có tư cách pháp nhân hay không, nếu có hành động mua bán hàng hóa, dịch vụ thì đều được coi là doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam khóa X thông qua ngày 12/6/1999 cũng nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Ở CHDCND Lào, Điều 4 Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua đã đưa ra khái niệm bao quát về doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích tổ chức sản xuất kinh doanh và được chia thành bốn loại: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập thể và trách nhiệm hữu hạn (doanh nghiệp nhà nước trong và ngoài nước), doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước. Doanh nghiệp có hai dạng: doanh nghiệp tư nhân và công ty [126, tr. 7].

Như vậy, doanh nghiệp là khái niệm chung, bao quát cho tất cả các tổ chức kinh tế có chức năng kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Thông thường, khái niệm doanh nghiệp dùng chỉ các đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh hợp pháp với tư cách pháp lý là một tổ chức nhất định với những điều kiện nhất định (cơ sở, tiền vốn, trang thiết bị, nhân lực).

V khái nim DNNN: Cũng có nhiều định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa nhấn mạnh một số tiêu chí nhất định. Các định nghĩa đó dựa trên các tiêu chí khác nhau như mục đích, sở hữu, hình thức, lý do thành lập, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp v.v… Do vậy, các khái niệm về DNNN rất hay bị lẫn lộn vì: theo tiêu chí nào đó, doanh nghiệp ở nước này là DNNN nhưng ở nước khác lại là doanh nghiệp tư nhân. Chẳng hạn, có nước lấy tiêu chí khống chế cổ phần và khống chế quản lý là chủ yếu, có nước cho rằng chỉ có các doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn mới là DNNN; có nước đòi hỏi ngoài tiêu chí sở hữu phải kèm theo tiêu chí tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm về tài sản và hiệu quả hoạt động kinh doanh; có nước quan niệm cả các tổ chức tài chính, dịch vụ công là DNNN nhưng nhiều nước chỉ coi các cơ sở sản xuất mới là DNNN. Do vậy, việc điểm qua các quan niệm về DNNN có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

y ban Cng đồng châu Âu (1980) đã xác định DNNN là tất cả các doanh nghiệp mà nhà cầm quyền có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế qua cổ phần hoặc điều lệ quản lý đối với doanh nghiệp để gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng [33, tr. 8].

Anh (1956), đã qui định các DNNN gồm ba điều kiện: i) Hội đồng quản trị doanh nghiệp do chính phủ bổ nhiệm, ii) Ủy ban quốc hữu hóa công nghiệp có quyền kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp, iii) Thu nhập của doanh nghiệp phải đủ lớn để trang trải chi phí, không dựa vào sự cung cấp của Quốc hội hoặc các cơ quan tài chính nhà nước.

Pháp, DNNN được xác định là những doanh nghiệp thỏa mãn ba điều kiện: i) Tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ đó chính phủ xác định được địa vị lãnh đạo của nhà nước đối với doanh nghiệp; ii) Có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống như các pháp nhân doanh nghiệp khác; iii) Thực hiện các hoạt động công thương độc lập, qui định nó là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi, chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ [118, tr. 9].

các nước khác, như Tây Ban Nha, Australia, Thụy Điển, Phần Lan, Braxin, Mêhicô v.v… đều xác định DNNN là các doanh nghiệp trong đó nhà nước chiếm trên 50% cổ phần. Cũng có những nước như Hàn Quốc chỉ quy định nếu Nhà nước chiếm trên 10% cổ phần, Italia trên 25%, Indonesia và Malaysia quy định nhà nước sở hữu trên 20% vốn pháp định đều là DNNN. Còn n Độ xác định tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong các ngành công – nông nghiệp và các ngành dịch vụ do chính phủ là người sở hữu chủ yếu đều là DNNN [33, tr. 9].

Thái Lan đã qui định, DNNN là công ty cổ phần có tư cách pháp nhân do nhà nước thành lập và đầu tư vốn 100% hoặc một phần trên 50% và thỏa mãn năm điều kiện: i) Là các tổ chức hoặc đơn vị kinh tế sản xuất kinh doanh mà chủ sở hữu là nhà nước; ii) Các doanh nghiệp hoặc các cửa hàng mà cổ phần nhà nước trên 50%; iii) Các doanh nghiệp hoặc cửa hàng cổ phần mà nhà nước và hoặc công ty của nhà nước ở hai dạng trên góp vốn trên 50%; iv) Các doanh nghiệp hoặc cửa hàng cổ phần mà Nhà nước hoặc DNNN ở các dạng i, ii, iii nêu trên góp vốn trên 50%; v) Các doanh nghiệp hoặc cửa hàng cổ phần mà Nhà nước hoặc DNNN ở bốn dạng trên góp vốn trên 50% [125, tr. 11].

Vit Nam, quan niệm về DNNN qua các thời kỳ đổi mới quản lý cũng đã thay đổi rất nhiều, khiến nhiều học giả, nhà quản lý đôi khi lẫn lộn giữa khái niệm DNNN và các khái niệm gần nghĩa khác dẫn đến hiểu sai lệch về vai trò, vị trí của DNNN và cuối cùng dẫn đến những cách hiểu và làm khác nhau trong thực tế tổ chức đổi mới DNNN. Trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, DNNN được coi là xí nghiệp quốc doanh, do nhà nước đầu tư vốn 100% và trực tiếp quản lý bao cấp, chiếm vị trí độc tôn trong nền kinh tế. Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự thay đổi cả về mặt nguyên tắc hoạt động, cơ chế quản lý hạch toán và cơ cấu sở hữu, phát triển một số hình thức đan xen sở hữu hoàn toàn mới. Tuy vậy, theo Luật DNNN của Việt Nam ban hành ngày 30/4/1995 thì “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý [60, tr. 30].

Theo Luật DNNN sửa đổi (năm 2003) của Việt Nam, DNNN được định nghĩa lại như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Với quan niệm như vậy, DNNN không những bao gồm loại doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước đăng ký, hoạt động theo Luật DNNN như trước đây (nay được gọi là công ty nhà nước), mà còn gồm cả doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước nhưng đăng ký, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên và loại doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước (dưới hình thức công ty TNHH và công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp hoặc theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà Nhà nước giữ trên 50% vốn điều lệ).

CHDCND Lào, vấn đề nghiên cứu và xác định tư cách pháp lý của DNNN bắt đầu có từ khi xuất hiện pháp luật về doanh nghiệp nói chung. Mặc dù Luật Doanh nghiệp đã ban hành và nhiều lần sửa đổi nhưng mỗi lần lại khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm rõ ràng về DNNN. Tuy nhiên, có cơ sở pháp lý để xác định DNNN ở Lào dựa vào Luật Doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp do Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 18/7/1994, Điều 77 đã qui định: “DNNN là một đơn vị kinh doanh của Nhà nước được thành lập và đầu tư hoặc liên doanh với các thành phần kinh tế khác với số vốn của Nhà nước từ 51% trở lên” [119, tr. 26]. Nguồn vốn của DNNN được lấy từ sự đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp cổ phần, tiền vay ngân hàng hoặc thiết chế tài chính ở trong và ngoài nước trên cơ sở chấp nhận quyền, nghĩa vụ và lợi ích chính đáng của hai bên đã ghi trong các điều lệ của Luật Doanh nghiệp.

Như vậy, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản sau đây của DNNN:

– Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp, nhờ đó Nhà nước có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp.

– Các DNNN đều tổ chức theo chế độ công ty, là một pháp nhân, nguồn thu chủ yếu từ hoạt động kinh doanh, tự hạch toán và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu kinh tế lẫn mục tiêu xã hội.

– Tùy theo từng quốc gia, định nghĩa và đặc trưng của DNNN có thể mở rộng sang cả các nhóm doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ nắm giữ cổ phần dưới 50% nhưng có quyền chi phối quản lý.

Như vậy, mặc dù đã có nhiều định nghĩa về DNNN được luật hóa như đã nêu nhưng khi giải thích luật có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh mức độ đầu tư vốn của Nhà nước vào một doanh nghiệp để có thể coi doanh nghiệp đó là DNNN. Từ đó, chúng ta có thể kết luận một doanh nghiệp được coi là DNNN khi thỏa mãn ba điều kiện sau:

Th nht: Nhà nước là cổ đông chính, sở hữu 100% vốn hoặc sở hữu cổ phần chi phối (trên 50%), hoặc sở hữu cổ phần đặc biệt (cổ phần qui định quyền quản lý của Nhà nước).

Hiện nay, sự đan xen các hình thức sở hữu đối với các loại hình doanh nghiệp đã trở thành xu thế chung của mọi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường. Vấn đề là hình thức sở hữu nào chiếm ưu thế trong sự đan xen ấy sẽ qui định tính chất của doanh nghiệp. Đối với những DNNN đã cổ phần hóa hoặc doanh nghiệp cổ phần, Nhà nước vẫn nắm tỷ lệ cổ phần chi phối, cho nên Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất, từ đó cổ đông nhà nước sẽ nắm quyền quyết định trong Hội đồng quản trị, sẽ đảm bảo được lợi ích Nhà nước do có cổ phần áp đảo.

Th hai: Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ để bán.

Th ba: Doanh nghiệp có hạch toán kinh tế.

Một doanh nghiệp nếu thiếu điều kiện thứ nhất, thì đó là doanh nghiệp tư nhân, thiếu điều kiện thứ hai hoặc điều kiện thứ ba cũng không được coi là DNNN mà chỉ được coi là cơ quan công cộng thông thường.

Dĩ nhiên, DNNN là những cơ sở kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một phần, sản xuất ra hàng hóa hay dịch vụ được đưa ra bán trên thị trường. Quyền sở hữu của Nhà nước là đặc điểm phân biệt DNNN với những doanh nghiệp trong khu vực tư nhân trong khi tính chất thương mại của chúng lại phân biệt chúng với những tổ chức và cơ quan khác của Nhà nước. Đặc điểm sở hữu của Nhà nước hầu như bao giờ cũng bao gồm cả quyền kiểm soát đến một mức độ nào đó, đến chính sách chỉ đạo và quyền can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp.

Kết hợp những quan niệm về DNNN đã nêu ở trên, luận án cho rằng: Ở CHDCND Lào, DNNN là loi doanh nghip do Nhà nước đầu tư vn thành lp và qun lý, có 100% s hu nhà nước hoc Nhà nước chiếm t l chi phi trong vn điu l, có tư cách pháp nhân độc lp, thc hin quyn và nghĩa v theo lut định, hot động theo mc tiêu li nhun hoc công ích, có vai trò nòng ct trong nn kinh tế nhiu thành phn do nm gi nhng ngành, lĩnh vc trng yếu, then cht ca nn kinh tế và do hiu qu kinh tế, tiến b công ngh, năng sut lao động và kh năng cnh tranh ca doanh nghip.

1.1.2. Phân loại doanh nghiệp nhà nước

DNNN là một loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, được thành lập bằng vốn nhà nước, có vai trò quan trọng mà Nhà nước dùng để trực tiếp điều tiết nền kinh tế phục vụ cho các mục đích của Nhà nước. Người ta cũng có thể phân DNNN thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo tiêu chí phân loại về qui mô, ngành nghề kinh doanh, mục đích thành lập, hoạt động, mức độ sở hữu… Thông thường, ở các nước trên thế giới có nhiều cách phân loại khác nhau.

Nếu xét theo cơ cu s hu thì có hai loi DNNN:

Mt là, DNNN đơn chủ sở hữu, là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu chỉ có Nhà nước.

Hai là, DNNN đa sở hữu, là loại doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ nắm giữ một phần sở hữu (tùy theo qui định của mỗi nước).

Nếu xét theo cách phân loi ca Liên hp quc, có ba loi DNNN:

Doanh nghip s nghip (Department Enterprise) được thành lập trong các ngành cung cấp nước, điện, giao thông liên lạc. Đây là DNNN chủ yếu cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng không lấy lợi nhuận làm mục đích mặc dù có ý thức về tài chính cố gắng hoạt động có hiệu quả.

Doanh nghip công cng (Public Enterprise), người chủ sở hữu chính của doanh nghiệp cũng là Nhà nước, nhưng có sự tham gia của các cổ đông trong xã hội. Loại DNNN này hoạt động nhằm cả mục đích xã hội chứ không đơn giản vì mục tiêu lợi nhuận.

Doanh nghip s hu nhà nước (State Owned Enterprise) là loại doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ dựa trên sự phân tích tài chính, lợi nhuận và chịu sự cạnh tranh với khu vực tư nhân trên thị trường.

Nếu xét theo mc tiêu hot động thì DNNN được chia thành ba nhóm:

  • · Nhóm I: Là các DNNN hoạt động công ích, phục vụ cho các mục tiêu chính trị xã hội của Nhà nước, phục vụ cho lợi ích trực tiếp của toàn xã hội hay lợi ích công cộng, chuyên sản xuất hàng quốc phòng, an ninh, y tế cộng đồng, văn hóa… Tiêu chí chuẩn chủ yếu để đánh giá hoạt động của DNNN nhóm này là hiệu quả chính trị xã hội, tức là sự ổn định và an toàn xã hội gắn với môi trường chính trị, kinh tế và xã hội. Sự hoạt động của các doanh nghiệp thuộc nhóm này dựa chủ yếu vào sự bao cấp tài chính của Nhà nước, chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, sản xuất theo kế hoạch và đơn đặt hàng của Nhà nước.
  • · Nhóm II: Là nhóm các DNNN bán công ích sản xuất hàng hóa khuyến dụng. Về thực chất, hoạt động của nhóm này là bán kinh doanh, là loại doanh nghiệp nửa bao cấp, nửa kinh doanh. Để đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp nhóm này, cần căn cứ chủ yếu vào kết quả thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động và xã hội như phúc lợi xã hội hay việc đáp ứng các hàng hóa khuyến dụng cho nhu cầu chung.
  • · Nhóm III: Là nhóm các DNNN kinh doanh thuần túy, mục đích hoạt động của nhóm này là sản xuất và kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận là chính. Nếu như nhóm thứ hai chỉ trong chừng mực nào đó chịu sự chi phối của cơ chế thị trường thì nhóm này hoạt động hoàn toàn bình đẳng với các chủ thể ở các thành phần kinh tế khác trong cạnh tranh trên thị trường. Đối với DNNN loại này, Nhà nước giao vốn đầu tư, doanh nghiệp tự chủ sản xuất, bảo tồn và phát triển vốn. Sự bảo tồn vốn và mức sinh lợi theo vốn trong sản xuất và kinh doanh là tiêu chuẩn chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc nhóm này, chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là tỷ suất lợi nhuận.

Nếu xét theo góc độ cnh tranh, có th chia DNNN thành ba loi:

+ Loại DNNN mang tính độc quyền.

+ Loại DNNN độc quyền cạnh tranh.

+ Loại DNNN mang tính cạnh tranh.

Nếu xét trên qun lý hành chính thì có hai loi (thc cht theo cp):

+ DNNN trung ương: do chính quyền trung ương thành lập và quản lý.

+ DNNN địa phương: do chính quyền địa phương thành lập và quản lý.

Nếu xét theo góc độ ngun vn có hai loi:

+ DNNN 100% vốn của Nhà nước

+ DNNN hỗn hợp, Nhà nước nắm cổ phần khống chế.

Căn c vào s khác nhau v địa v pháp lut, người ta có th chia thành ba loi DNNN như sau:

+ DNNN do Chính phủ trực tiếp quản lý, không có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập.

+ DNNN có đầy đủ địa vị pháp nhân và toàn bộ sở hữu thuộc về Nhà nước.

+ DNNN hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và Nhà nước có quyền sở hữu một phần tài sản.

Ngoài ra, theo các tiêu chí qui mô ngành nghề, hình thức tổ chức quản lý DNNN còn được phân loại giống như hệ thống phân loại chung của các doanh nghiệp nói chung.

Vit Nam, theo Luật DNNN năm 1995 và 2003 xét theo góc độ sở hữu thì DNNN được chia thành ba loại:

+ Loại doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước.

+ Loại doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50%.

+ Loại doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó phần sở hữu của Nhà nước có tỷ lệ khống chế

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật DNNN năm 1995, Luật DNNN năm 2003, đã sửa đổi và bổ sung, đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 tháy thế luật DNNN năm 1995, dựa vào vốn của Nhà nước vào doanh nghiệp, DNNN có thể chiưa thành các loại:

+ Công ty nhà nước: Là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, các công ty này được thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo Luật DNNN năm 2003. Công ty nhà nước có thể chia ra:

  • · Công ty nhà nước độc lập: Là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ chức của tổng công ty nhà nước.
  • · Tổng công ty nhà nước: Là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị kinh tế thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế công nghệ, thị trường và các dịch vụ khác trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn tổng công ty.

+ Công ty cổ phần nhà nước: Là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn được tổ chức và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN (2003).

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước: Là công ty do các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền đầu tư vốn thành lập gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và công ty TNHH nhà nước có hai thành viên trở lên.

+ Doanh nghiệp cổ phần: Vốn góp chi phỗi của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc phần vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ. Đối với các doanh nghiệp thuộc loại này nhà nước giữ quyền chi phối; có nghĩa là Nhà nước giữ quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức và quản lý các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp.

Các loại DNNN nêu trên (trừ các loại công ty nhà nước), mặc dù được pháp luật thừa nhận là DNNN nhưng chúng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật DNNN năm 2003 chỉ điều chỉnh quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp đó.

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước, luật chia DNNN  năm 2003 cũng đã quy định hai mô hình tổ chức quản lý DNNN. Đó là:

+ DNNN có HĐQT: Là công ty hoặc tổng công ty có quy mô lớn, tầm quan trọng cao, có bộ máy quản lý gồm HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc, do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền quyết định.

+ DNNN không có HĐQT: Là công ty mà giám đốc do người quyết định thành lập doanh nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật…

CHDCND Lào, DNNN chỉ được phân loại theo các khía cạnh khác nhau như tính chất sở hữu tài sản, trách nhiệm pháp lý, qui mô,…

– Theo tính cht s hu tài sn thì có hai loi:

+ Loại DNNN một chủ sở hữu, là đơn vị kinh tế 100% vốn, thuộc về Nhà nước, chủ yếu áp dụng cho những lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.

+ Loại các DNNN nhiều chủ sở hữu vốn trong đó Nhà nước có tỷ lệ sở hữu khống chế. Đây là loại doanh nghiệp bao gồm vốn nhà nước, vốn liên doanh, vốn huy động công nhân viên chức, vốn cổ phần của các cổ đông khác, về lâu dài chủ yếu sẽ là doanh nghiệp cổ phần có huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội để khắc phục những mặt hạn chế về nguồn vốn nhà nước, đặc điểm hạn chế của DNNN loại này là trách nhiệm pháp lý hữu hạn của các bên chung vốn trong nghĩa vụ tài chính.

– Theo trách nhim pháp lý thì có hai loi DNNN:

+ Loại DNNN có trách nhiệm pháp lý vô hạn.

+ Loại DNNN có trách nhiệm pháp lý hữu hạn như công ty cổ phần…

– Theo qui mô: Có DNNN qui mô lớn, vừa và nhỏ. Để phân loại qui mô DNNN người ta dùng các tiêu chuẩn vốn, doanh số và lao động. Thông thường, ở Lào, trong điều kiện hiện nay, hai tiêu chuẩn: vốn và doanh số là hai tiêu chí phân loại về qui mô quan trọng nhất (xem bảng 1.1).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *