Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế

Viết thuê luận văn thạc sĩ giá rẻ, viết thuê luận văn cao học
Like để cảm ơn người viết

Luận án phân tích sự vận động của dòng FDI trên thế giới qua hai giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất (trước năm 1945), cho thấy FDI chảy từ các nước tư bản phát triển sang các nước ĐPT.

– Giai đoạn thứ hai (từ sau năm 1945 đến nay), vận động của dòng FDI trên thế giới đã có sự thay đổi. Đó là:

Một là, FDI tập trung vào các nước tư bản phát triển, do nguyên nhân sau: sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ dẫn đến sự ra đời của các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, sử dụng ít nhân công nhưng có giá trị gia tăng cao, hứa hẹn một tỷ suất lợi nhuận. Sự tái thiết châu Âu sau chiến tranh thế giới II cần đến nhiều vốn, do sợ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ la tinh đe dọa quốc hữu hóa nguồn vốn nước ngoài.

Hai là, lĩnh vực công nghiệp chế biến và dịch vụ thu hút đầu tư nhiều nhất.

Ba là, sự xuất hiện nhiều trung tâm đầu tư mới như: Nhật, Tây Âu và các nước NIES châu Á.

Bốn là, các CTXQG (TNC) trở thành chủ đầu tư thực sự.

Điều đáng chú ý là sự gia tăng trở lại của FDI vào các nước đang phát triển trong thời kỳ gần đây. Ở châu Á, Trung Quốc là nước thu hút FDI nhiều nhất. Nguyên nhân của tình hình trên là:

Thứ nhất, kinh tế thế giới TBCN đã qua giai đoạn suy thoái, kinh tế các nước đang phát triển có bước tăng nhanh, mạnh trong nhiều năm liền, môi trường đầu tư ở các nước đang phát triển ngày càng hoàn thiện khiến FDI tăng vọt.

Thứ hai, Đông Á và Đông Nam Á trở thành khu vực hấp dẫn FDI. Vì sự ra đời các khối liên kết kinh tế thế giới, làm cho lưu lượng hàng hóa trao đổi, hoạt động đầu tư sôi động hơn, sức lao động rẻ, nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định với cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế ngày càng được cải thiện… Luận án cho rằng, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính (năm 1997), FDI vào các nước ASEAN có chiều hướng giảm xuống.

1.2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển trong khu vực

1.2.1. Vai trò tích cực của FDI đối với các nước ĐPT trong khu vực

FDI là nguồn lực hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là với các nước ĐPT. Một trong những nhân tố để các nước ĐPT đạt được tốc độ tăng trường kinh tế nhanh là các nước này đã có chính sách thu hút FDI một cách hợp lý. Thực tế chỉ ra rằng đi cùng với FDI là kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường…; những nhân tố đó trở thành lực lượng đối phó những bế tắc cản trở để mở ra hướng đi lên của các nền kinh tế chậm phát triển, góp phần khởi động cho quá trình CNH, HĐH. Vai trò của FDI thể hiện như sau:

Một là, FDI có vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước ĐPT trong khu vực, bao gồm cơ cấu ngành kinh tế nông, công nghiệp, dịch vụ; cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu lao động.

Hai là, Vai trò FDI trong việc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu: Qua sự phân tích luận án có thể rút ra những nhận xét sau đây về vai trò FDI đối với sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước ĐPT.

Thứ nhất, FDI đã thực sự tác động đến cơ cấu xuất khẩu của các nước ASEAN dẫn đến quá trình thương mại quốc tế cũng tăng lên một cách nhanh chóng cả chất và lượng.

Thứ hai, gắn liền với sự tăng trưởng thương mại quốc tế là việc mở rộng thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu hàng hóa.

Thứ ba, trong khi tốc độ tăng xuất khẩu của ASEAN khá cao và làm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu – sự gia tăng của hàng chế tạo trong tổng số hàng xuất khẩu.

Ba là, Vai trò FDI đối với việc làm nhẹ gánh nặng thất nghiệp.

Tác giả luận án cho rằng FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế, làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của các ngành công nghiệp, dịch vụ… Do đó, làm tăng thêm nhu cầu về lao động, người làm dịch vụ, phục vụ sản xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng, tạo ra việc làm cho đội ngũ những người làm trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội…

Mặt khác, cùng với giải quyết việc làm là thu nhập, tiền công… của người lao động cũng được tăng lên, góp phần nâng cao đời sống.

1.2.2. Một số hạn chế của FDI

Luận án cho rằng bên cạnh những tác động tích cực đó, FDI cũng có mặt trái của nó (hạn chế).

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế của các nước nhập đầu tư nước ngoài thường không hợp lý. Sự phát triển không đều giữa các ngành, các vùng và giữa thành thị với nông thôn.

Thứ hai, Chuyển giao công nghệ thường là lạc hậu và thiếu đồng bộ.

Đi cùng với vốn đầu tư nước ngoài là thương mại, chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Nhưng thường chuyển giao những công nghệ, thiết bị đã lạc hậu, không đồng bộ hoặc công nghệ đòi hỏi chi phí vốn lớn, hoặc công nghệ gây ô nhiễm môi trường.

Thứ ba, FDI với vấn đề ô nhiễm môi trường.

Trong việc chuyển giao công nghệ cho các nước ĐPT cũng đồng thời là quá trình chuyển dịch ngành nghề, thiết bị lỗi thời khiến ô nhiễm môi trường ở đây thêm nghiêm trọng. Điều đó coi như “cái giá phải trả” mà nước nhận được đầu tư gánh chịu. Từ đó, luận án cho rằng các nước nhận đầu tư phải quan tâm bảo vệ môi trường khi tiếp nhận công nghệ nước ngoài.

Thứ tư, ảnh hưởng đến một số mặt của đời sống xã hội, như: Mâu thuẫn trong cơ cấu lao động giữa các ngành nghề và có sự phân hóa thu nhập. Đồng thời với quá trình du nhập kỹ thuật, công nghệ là có thể du nhập về lối sống văn hóa phương Tây, có thể làm phai nhạt văn hóa cội nguồn ở các nước ĐPT, thậm chí tạo ra một lớp người bị mua chuộc trở thành công cụ cho các nhà TBNN bóc lột người lao động trong nước, làm phương hại đến lợi ích quốc gia.

Tóm lại, FDI tự nó không phải chỉ có những ưu điểm là đưa lại cho nền kinh tế của các nước ĐPT, mà còn có những hạn chế (mặt trái) của nó. Về mặt trái này nhà nghiên cứu F.Mareos, đã nhận xét rằng “nếu không có sự kiểm soát thì đầu tư nước ngoài không kém gì xâm lược”.

1.3. Một số kinh nghiệm thu hút FDI của Thái Lan và Việt Nam

1.3.1. Thái Lan thu hút FDI và kinh nghiệm rút ra

Thái Lan bắt đầu quá trình CNH trong kế hoạch 6 năm lần thứ nhất (1961 – 1966), từ đó Thái Lan đã đạt một tốc độ phát triển ngày càng cao. Để kinh tế phát triển nhanh, Thái Lan đã nỗ lực tăng đầu tư bằng cách đã thu hút vốn đầu tư gián tiếp, chủ yếu là vốn ODA. Vào năm 1970 vốn vay ưu đãi chiếm 76% trong tổng vốn vay dài hạn từ nước ngoài và ngân hàng thế giới. Các nguồn vốn này chủ yếu dùng vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế. Sau thập kỷ 80, vốn vay ưu đãi cung ứng không đủ, Thái Lan phải chú trọng nhiều hơn đến vốn vay thương mại và FDI.

Luận án đã trình bày quá trình thu hút FDI của Thái Lan qua 5 giai đoạn. Đồng thời làm rõ những nội dung của mỗi giai đoạn.

Từ nghiên cứu thu hút FDI của Thái Lan, luận án rút ra những kinh nghiệm để tham khảo và vận dụng vào CHDCND Lào, đó là:

Một là, phải có kế hoạch – chương trình phát triển dài hạn và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

Hai là, môi trường chính trị và môi trường kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút đầu tư nước ngoài. Ổn định môi trường kinh tế có thể thiết lập bằng việc điều chỉnh hợp lý và kịp thời các chính sách tài chính tiền tệ, tỷ giá… nhằm đạt được một sự ổn định và cân bằng kinh tế.

Ba là, cần có chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân thu hút thành phần này vào hoạt động kinh tế đối ngoại, xây dựng cơ sở liên doanh sản xuất, cùng tham gia đấu thầu các công trình công nghiệp…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *