Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế

Viết thuê luận văn thạc sĩ giá rẻ, viết thuê luận văn cao học
Like để cảm ơn người viết

Bốn là, các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư bao gồm các đòn bẩy như thuế, lãi suất… và các biện pháp giảm phiền hà về thủ tục hành chính phải đủ mạnh và có hiệu quả.

Bên cạnh những mặt được, luận án cũng không phủ nhận những mặt tiêu cực thách thức của quá trình thu hút FDI của Thái Lan đang làm tăng thêm cái giá phải trả.

1.3.2. Việt Nam thu hút và sử dụng FDI trong hơn 10 năm. Bài học kinh nghiệm

Ngay từ những năm đầu của cuộc đổi mới kinh tế, vào năm 1987 Việt Nam đã ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và sau đó được điều chỉnh bổ sung nhiều lần. Bộ luật này được đánh giá là thông thoáng và hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Từ đó FDI vào Việt Nam đã tăng rất nhanh, tốc độ bình quân 50% năm.

Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài đến 31/12/2000, Việt Nam thu hút được tất cả 3.265 dự án đã được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 38,6 tỷ USD; tổng vốn thực hiện từ năm 1988 đến nay đạt khoảng 20 tỷ USD. Các dự án đó đã hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế, tập trung chủ yếu ở 4 ngành trong đó lớn nhất là các ngành công nghiệp chiếm 50,9%số dự án và 38,5% về vốn; ngành xây dựng chiếm 9,64% số dự án và 12,3% về vốn; ngành nông nghiệp chiếm 10,2% số dự án và 3,38% về vốn; ngành khách sạn du lịch chiếm gần 7,15% số dự án và 12,9% về vốn; ngành giao thông vận tải thông tin liên lạc chiếm 4,9% dự án và 9,2 về vốn…

Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam như: đóng góp quan trọng vào việc khắc phục thiếu hụt vốn ở Việt Nam (chiếm 31% – 33% tổng số vốn đầu tư của nền kinh tế) đồng thời tạo ra những sản phẩm, khu vực kinh tế và ngành kinh tế cá biệt có kỹ thuật – công nghệ cao từ đó nâng cao kim ngạch xuất khẩu, cải thiện môi trường lao động, bước đầu tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động.

Khái quát những thành tựu của CHXHCN Việt Nam trong việc thu hút FDI luận án cho rằng đầu tư nước ngoài đã thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế Việt Nam đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển, góp phần tạo thế và lực cho Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Tuy vậy, việc thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam còn nhiều hạn chế.

– Dòng vốn FDI vào Việt Nam không cân đối, chủ yếu tập trung ở vùng tương đối giàu về những ngành công nghiệp dịch vụ.

– Nhiều công nghệ được chuyển giao cho Việt Nam là: cũ, lạc hậu chi phí vốn lớn gây ô nhiễm môi trường. Qua kiểm tra 727 thiết bị và dây chuyền sản xuất ở 42 cơ sở có tới 60 – 70% là thiết bị cũ.

– Dòng vốn FDI vào Việt Nam góp phần làm tăng thêm thâm hụt cán cân thương mại.

– Thu nhập bình quân của lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn thu nhập bình quân của lao động ở khu vực có vốn trong nước. Điều này càng góp phần làm tăng thêm khoảng cách giàu và nghèo trong xã hội.

– Các doanh nghiệp có vốn FDI đang có xu hướng chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp có vốn trong nước ở một số lĩnh vực…

Từ nghiên cứu thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua, luận án rút ra một số kinh nghiệm mà Lào có thể vận dụng đó là:

Thứ nhất, đối với Việt Nam, sự ổn định chính trị luôn được bảo đảm cùng với chính sách ngoại giao mềm dẻo, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ với khẩu hiệu “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình hợp tác cùng phát triển” dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân của mọi thành công, trong đó có việc thu hút FDI.

Thứ hai, tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, và luôn luôn hoàn thiện môi trường pháp lý để thu hút FDI.

Thứ ba, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuận lợi.

Thứ tư, người lao động Việt Nam cần cù, thông minh, kế thừa truyền thống nghìn năm văn hiến đã biết phát huy sức mạnh cộng đồng tiếp thu cái mới, kiên quyết vươn lên xóa bỏ đói nghèo.

Cuối cùng, những điểm hạn chế trong việc thu hút FDI của Việt Nam cũng gợi mở cho Lào những kinh nghiệm có thể tránh được trong việc thu hút FDI tại Lào.

Chương 2

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Ở chương này, tác giả luận án góp phần đánh giá một cách toàn diện – sát đúng về thực trạng thu hút FDI vào Lào cùng với những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để làm cơ sở cho việc lựa chọn những quan điểm và giải pháp khả thi, nhằm tiếp tục thu hút FDI trong thời gian tới.

2.1. Quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1. Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Lào là một nước nghèo, nền kinh tế mang nặng tính chất tự nhiên, tự túc, sản xuất các sản phẩm không đủ cho tiêu dùng, không có sự tích lũy nội bộ, hoàn toàn phụ thuộc bên ngoài, nền tài chính quốc gia non yếu và quản lý kém hiệu quả đang là trở ngại lớn trong công cuộc đầu tư và phát triển.

Để phát triển kinh tế – xã hội theo đường lối của Đảng nhân dân cách mạng Lào, CHDCND Lào có nhu cầu vốn lớn. Chẳng hạn: Theo tính toán của các chuyên gia, thì để đạt mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2005, CHDCND Lào cần ít nhất là 2 tỷ USD, trong khi khả năng trong nước chỉ có thể đáp ứng 230 tỷ kíp, đầu tư tư nhân trong nước chiếm 3-5% tổng khối lượng đầu tư cả nước, như vậy mới chỉ đạt 30%, phần còn lại phải nhờ vào thu hút nguồn vốn bên ngoài.

2.1.2. Những đặc điểm kinh tế – xã hội liên quan đến thu hút FDI ở CHDCND Lào

2.1.2.1. Đặc điểm về vị trí địa hình

CHDCND Lào nằm ở phía Tây bán đảo Đông Dương với diện tích là 236.800 km2, dân số 4.820.000 người (1998), mật độ dân số trung bình là 20 người/km2, khoảng 80%diện tích lãnh thổ của Lào nằm hoàn toàn về phía Tây nơi tập trung tới 75% dân số cả nước. Lào không có đường biển, chưa có đường sắt việc vận chuyển chỉ bằng ôtô. Chính vì vậy, cước phí vận chuyển rất cao, giá hàng nhập khẩu vào Lào đắt. Chính điều này là trở ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài.

2.1.2.2. Đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên

Do nằm trong vị trí đã nêu trên nên Lào có nhiều đặc tính của vùng nhiệt đới – là một môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng của nhiều loại sinh vật nhiệt đới.

Đất nước Lào là đất nước của màu xanh với núi rừng trùng điệp chiếm 75% diện tích. Diện tích rừng có khoảng 11,2 triệu ha (1999) có trữ lượng gỗ hơn 1 tỷ m3, mỗi năm có thể khai thác trên 500.0003gỗ tròn các loại. Lào có trên 4 triệu ha là đất nông nghiệp, có trữ lượng nước lớn nhất là 400 tỷ m3/năm và nguồn thủy điện có thể đạt 18 triệu KW. Đó là điều kiện thuận lợi cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Lào còn có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên tươi đẹp, có di tích lịch sử lâu đời nổi tiếng. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút FDI vào xây dựng công nghiệp, phát triển du lịch…

2.1.2.3. Đặc điểm về trình độ phát triển kinh tế

Nền kinh tế Lào cơ bản vẫn là nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp, năng suất lao động còn thấp, đời sống nhân dân chưa ổn định, có nơi người sống biệt lập, tách rời với thế giới bên ngoài. Do sự khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt nên khả năng tích lũy rất hạn hẹp, vốn tích lũy để đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng rất nhỏ, nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài.

2.1.2.4. Đặc điểm về dân số và lao động

CHDCND Lào là một nước đa dạng tộc người trong đó có 68 tộc người có tiếng nói, phong tục tập quán khác nhau và trình độ văn hóa – khoa học kỹ thuật khác nhau. Việc phân bổ dân cư không đồng đều, dân số tập trung ở thành thị, các thành phố lớn, nông dân chiếm hơn 90% dân số và sản phẩm nông nghiệp chiếm 60% GDP. Số lao động cả nước Lào (1998) là 2.584.100 người. Trong đó lao động nam là 1.336.000, lao động nữ là 1.248.100 người; tỷ lệ lao động được đào tạo chu đáo, có trình độ văn hóa, khoa học, chuyên môn tay nghề, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh thấp. Đây là một trở ngại lớn về việc thu hút FDI vào Lào.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *