Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế

Viết thuê luận văn thạc sĩ giá rẻ, viết thuê luận văn cao học
Like để cảm ơn người viết

2.1.2.5. Đặc điểm về tâm lý xã hội

Nhân dân các bộ tộc có lịch sử dựng và giữ nước hàng nghìn năm, đạo phật đã phát triển tồn tại và được nhân dân Lào kính trọng trong suốt hơn 700 năm nên đạo Phật – Phật giáo đã thấm sâu vào tư tưởng tình cảm và ý thức của nhân dân các bộ tộc Lào. Do đó Lào có một nền văn hóa dân tộc thống nhất, vừa thấm đượm tính nhân từ của đạo Phật vừa mang sắc thái bình yên của người Lào. Triết lý đạo Phật khuyên con người sống bình thường đơn giản, cần cù và dựa vào bản thân mình ăn ở hiền lành để lấy phúc cho đời sau, không nên tham lam. Mặt khác, thiên nhiên hào phóng của Lào đã dẫn đến một phương thức sản xuất nặng về tận dụng tặng vật của thiên nhiên. Trong lịch sử của mình, người Lào ít phải cạnh tranh mưu tính cuộc sống. Chính những đặc điểm này gây trở ngại không nhỏ cho việc thu hút vốn FDI vào xây dựng nền kinh tế tăng trưởng ở Lào.

2.1.3. Thu hút vốn FDI – thành tựu và vai trò của FDI trong việc phát triển kinh tế của CHDCND Lào

2.1.3.1. Tình hình thu hút FDI

Từ khi công bố luật đầu tư nước ngoài tại Lào, nhiều dự án đầu tư của nước ngoài đã được cấp giấy phép và đi vào hoạt động. Theo số liệu báo cáo tính đến đầu năm 2000, FDI vào Lào có 789 dự án với tổng số vốn đầu tư được cấp phép 7.063.003.911 USD. Trong đó lĩnh vực năng lượng điện lực có số vốn lớn nhất 63,72%, ngành giao thông vận tải và viễn thông 9,03%, khách sạn – du lịch 8.51%, công nghiệp và thủ công 7,32%, công nghiệp gỗ 2,40%, khoáng sản và dầu khí 2,00%, nông nghiệp 1,91%, ngân hàng bảo hiểm 1,19%, may mặc 1,03%, thương mại chiếm 1,01%, còn lại các ngành dịch vụ, tư vấn, xây dựng có nhiều số dự án nhưng tổng số vốn đầu tư rất ít, không đến 1%.

Về hình thức đầu tư có ba hình thức như: hợp đồng hợp tác kinh doanh có 11 dự án, xí nghiệp liên doanh có 183 dự án, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài 243 dự án trong xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là phổ biến nhất.

2.1.3.2. Vai trò (đóng góp) của FDI vào sự phát triển kinh tế của CHDCND Lào

Lào đã thu hút được FDI. Tuy còn ít ỏi nhưng có thể khẳng định là FDI thực sự đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, thu hút lao động, tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, tiếp nhận kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, làm nền kinh tế tăng trưởng, cải thiện đời sống cho nhân dân. Cụ thể:

– Nền kinh tế quốc dân có sự phát triển và được củng cố từng bước. Giai đoạn 1981 – 1985, GDP tăng lên bình quân 5,5% năm; giai đoạn 1986 – 1990 GDP tăng 4,5% năm; giai đoạn 1991 – 1995 GDP tăng 6,4% năm và giai đoạn 1996 – 2000 GDP tăng 6,2% năm. Con số tuy tăng không đều nhưng trong đó FDI đã góp phần rất quan trọng với việc phát triển kinh tế từ năm 1988 đến nay. Thu nhập quốc dân năm 1985 GDP bình quân đầu người được 114 USD/người, năm 1990 tăng lên 211 USD/người, năm 1995 tăng lên 380 USD/người và năm 2000 lại giảm 30 USD/người. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhất là xây dựng thủy điện so với năm 1976 tăng lên 6,4 lần tổng tất cả vốn liên doanh và vốn FDI trong thời gian 2-3 năm qua. Việc sản xuất năng lượng thành công được 3.672 triệu KW – tăng lên 14,9 lần so với năm 1996. Về giao thông vận tải FDI đã góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng: đường giao thông vận tải đã được khôi phục và xây dựng mới khoảng 380km, đã thành công trong việc xây dựng cầu qua sông Mê Kông và hai cầu ở Viên Chăn và Chăm Pa Xắc, nâng cao chất lượng xây dựng bê tông đường hàng không như sân bay Vặt Tay, sân bay Luông Pha Bang trở thành sân bay quốc tế.

– Hoạt động FDI ở Lào còn góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mới như: năng lượng điện, công nghiệp gỗ… nhiều công ty đã tăng kim ngạch xuất khẩu. Chỉ tính riêng hai năm 1997 – 1998, kim ngạch xuất khẩu Lào đã đạt được 330 triệu USD; ngoài ra một số công ty còn sản xuất được một số sản phẩm thay thế nhập khẩu tiết kiệm nhiều ngoại tệ cho đất nước.

– FDI đã góp phần đáng kể như: tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất dẫn đến cơ cấu tiêu dùng theo hướng tiến bộ. FDI đã khai thác tiềm năng vốn có của đất nước, tăng xuất khẩu, cải thiện đời sống nhân dân, tạo công ăn việc làm ổn định, giảm thất nghiệp xây dựng. Tóm lại là thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển và góp phần tạo tiền đề cho CNH, HĐH ở Lào.

2.2. Những hạn chế và những vấn đề đặt ra trong việc thu hút FDI ở CHDCND Lào

2.2.1. Những hạn chế trong thu hút FDI ở Lào

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Lào đã đạt được một số kết quả quan trọng góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, song cũng bộc lộ những mặt tồn tại và hạn chế hết sức gay gắt.

+ Còn nhiều sai phạm trong chính sách, như: vi phạm pháp luật của Nhà nước Lào, vi phạm hợp đồng đã ký kết, trì hoãn và chậm nộp thuế, vi phạm luật lao động của Lào.

+ Cơ cấu đầu tư chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế

Các nhà đầu tư thường lựa chọn những ngành công nghiệp chế biến, một số ngành đặc thù hoặc một số ngành du lịch, dịch vụ… Có khả năng mang lại lợi nhuận nhanh hơn, những vùng sâu xa khó khăn họ không đầu tư. Chẳng hạn: FDI tập trung ở thủ đô Viên Chăn, chiếm 93,61% tổng số FDI ở Lào.

+ Ô nhiễm môi trường: đã trở thành vấn đề bức xúc.

Đó là ô nhiễm môi trường, làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên và rác thải công nghiệp, khói bụi, tiếng ồn đã thải loại vào không khí những chất độc hại.

+ Quản lý vĩ mô chưa theo kịp những diễn biến phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Như đã trình bày, hoạt động đầu tư nước ngoài là một quá trình đòi hỏi phải vừa hợp tác vừa đấu tranh để đạt được lợi ích cho mỗi bên theo luật định. Nhà đầu tư nước ngoài với mục tiêu là lợi nhuận và tìm lợi ích bằng cách lợi dụng khe hở của luật pháp nước sở tại, đối với phía đối tác trong nước thì việc xử lý các tình huống trong quản lý hoạt động đầu tư chưa theo kịp và lúng túng cho nên những việc sai phạm không được xử lý kịp thời – việc tốt lại không được khen thưởng.

2.2.2. Những vấn đề đang đặt ra trong việc thu hút FDI ở Lào

Luận án án đã trình bày và phân tích kỹ 4 loại vấn đề đặt ra hiện nay đối với việc thu hút FDI:

Một là, Tình hình thu hút FDI vào Lào có xu hướng giảm sút, do nhiều nguyên nhân.

Hai là, số dự án đã đầu tư xin bổ sung vốn và doanh nghiệp liên doanh xin chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài tăng lên.

Luận án đánh giá hai khía cạnh như: Thứ nhất, FDI ở Lào đã có hiệu quả, đi vào chất lượng hơn – đó là điều đáng mừng. Thứ hai, hiện tượng các dự án đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài tăng lên hoặc doanh nghiệp liên doanh xin chuyển hình thức 100% vốn nước ngoài nhiều hơn chứng tỏ rằng môi trường đầu tư nơi đó tốt hơn.

Ba là, luật đầu tư nước ngoài của Lào thông thoáng nhưng chính sách kinh tế lại chưa phù hợp với từng thời kỳ, các văn bản dưới luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ. Việc thực hiện luật không nghiêm làm cho môi trường đầu tư ở Lào giảm sút hấp dẫn cần thiết.

Bốn là, tình hình kinh tế Lào trong những năm gần đây có khó khăn.

Luận án đã nêu những nét nổi bật một cách khái quát. Đời sống của nhân dân rất khó khăn phức tạp do giá cả nhiều mặt hàng tăng cao, nhưng thu nhập ngày càng giảm sút. Tỷ giá hối đoái tăng nhanh (năm 1998 tăng 19,5%); nợ nước ngoài nhiều (năm 1998: 2,2 tỷ USD).

Sự thâm hụt ngân sách năm 1997 – 1998 khoảng 13% GDP. Xuất khẩu năm 1998 là khoảng 150 triệu USD mà nhập vào đã tới 300 triệu USD, tức là thiếu 150 triệu USD.

Những vấn đề nêu trên đây, luận án cho rằng là những vấn đề rất quan trọng và cấp bách hiện nay CHDCND Lào phải quan tâm giải quyết.

Chương 3

NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM THU HÚT CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chương này, luận án bố trí làm 2 tiết.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *