Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Viết thuê luận văn thạc sĩ giá rẻ, viết thuê luận văn cao học
Like để cảm ơn người viết

Tham gia tổ chức và trực tiếp tham gia các đợt đánh giá hệ thống chất lượng do công ty hoặc các đoưn vị ngoài công ty thực hiện.

Ngoài ra để xem xét, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách chất lượng, công ty phải đưa ra được những giải pháp khắc phục, phòng ngừa và những biện pháp thúc đẩy hệ thống chất lượng hoạt động có hiệu quả hơn: công ty duy trì đều đặn các cuộc họp, xem xét của lãnh đạo về chất lượng theo quy định số lần trong năm.

Các thông tin sau đây sẽ được đưa vào xem xét :

– Hiệu quả của hệ thống chất lượng

– Thông tin phản hồi từ phía khách hàng và từ các nguồn thông tin khác

– Báo cáo kết quả đánh giá nội bộ

– Các vấn đề của kỳ họp lần trước đã nêu ra để thực hiện tiếp theo và hiệu quả của những thay đổi trong hệ thốg chất lượng

-Việc thực hiện kế hoạch chất lượng đã đề ra, cơ cấu tổ chức, các nguồn lực, đào tạo

– Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của công ty so với yêu cầu và so với đối thủ cạnh tranh

– Công ty cần đưa ra các biện pháp khắc phục và phòng ngừa sự không phù hợp.

3.3. Các kiến nghị với nhà nước:

Nền kinh tế Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, môi trường sản xuất kinh doanh dần trở nên thông thoáng hơn.Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng sự điều hành của Nhà nước vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Hệ thống chính sách và pháp luật về kinh doanh cần tiếp tục hoàn thiện nhằm tạo môi trường minh bạch, ổn định, thông thoáng cho các doanh nghiệp hoạt động. Mặc dù chúng ta đã có nhiều cải cách về hệ thống chính sách, pháp luật được bạn bè quốc tế ghi nhận nhưng nhìn chung đây vẫn là một trong những điểm yếu của nền kinh tế. Vì vậy, để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nói chung, của Công ty Vinamilk nói riêng, Nhà nước cần tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, thủ tục xuất nhập khẩu vẫn còn nhiều phiền hà ảnh hưởng không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước cần phải đơn giản hóa thủ tục góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi. Thường xuyên rà soát tháo gỡ những bất hợp lý trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Thứ hai, có chính sách, biện pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh, đủ sức vươn ra thị trường quốc tế. Những hỗ trợ của Nhà nước là hết sức cần thiết trong giai đoạn phát triển của Công ty mới được cổ phần hóa.

Thứ ba, tăng cường nghiên cứu và cung cấp thông tin về thị trường nước ngoài cho các doanh nghiệp trong nước. Vai trò làm cầu nối giữa kinh tế trong nước và thị trường quốc tế.

Thứ tư, đối với ngành sữa nói chung và Công ty Vinamilk nói riêng, để thúc đẩy phát triển nguyên liệu trong nước, đề nghị Chính phủ xem xét ban hành cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp chế biến sữa phải đầu tư cho phát triển vùng nguyên liệu và thu mua sữa tươi sản xuất trong nước như:

–         Không cấp giấy phép cho các doanh nghiệp đầu tư vào ngành sữa nếu không đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.

–         Áp dụng hạn ngạch nhập khẩu nguyên liệu sữa bột tỷ lệ với lượng sữa tươi thu mua của nông dân cho các doanh nghiệp chế biến sữa.

–         Quản lý chặt chẽ các khâu từ khâu nguyên liệu đến công nghiệp chế biến, không để tình trạng có nhà máy chế biến nhưng không đủ sữa cung cấp cho nhà máy. Các tiêu chuẩn về sữa phải có và được thực hiện một các nghiêm chỉnh. Đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng.

Kết luận chương 3:

Trên cơ sở thực tiễn về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần sữa Việt Nam thời gian qua, từ dự báo về triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam, triển vọng mở cửa thị trường xuất khẩu cho mặt hàng mới của Việt Nam, dự báo nhu cầu các sản phẩm sữa của thị trường sữa Việt Nam từ năm 2005 đến 2010 và phân tích môi trường cạnh tranh, chương 3 đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Những giải pháp, kiến nghị đã nêu ở chương này là cơ sở để Công ty cổ phần sữa Việt nam nói riêng và các Công ty sữa ở Việt Nam nói chung vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, nguồn lực, trình độ, quản lý…  để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian tới.


KẾT LUẬN

Quá trình hội nhập kinh tế với thế giới đã đặt các doanh nghiệp Việt nam trước rất khó khăn, thách thức. Để phát triển, nâng cao vị thế trên thương trường các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng quản lý sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm … Mở rộng thị trường là công tác rất quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Luận văn đạt được những kết quả sau đây:

1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiêp.

2. Phân tích thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần sữa Việt Nam, từ đó chỉ ra những thành công, tồn tại và nguyên nhân của việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần sữa Việt nam.

3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sữa như các giải pháp về: sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, marketing và các giải pháp khác.

Một số đề xuất của luận văn xuất phát từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng mở rộng thị trường của Công ty cổ phần sữa Việt Nam, vì vậy các giải pháp đưa ra sẽ đóng góp phần nào đó trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sữa của Công ty cổ phần sữa Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sữa nói chung.

Tác giả xin chân thành cám ơn Trường Đại học Thương mại, khoa sau đại học, cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Bích Loan, các cơ quan, các nhà nghiên cứu và Công ty cổ phần sữa Việt Nam đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của các Nhà khoa học để luận văn được hoàn chỉnh nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *