Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần Công nghệ Hoàng Hà

Like để cảm ơn người viết

Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần Công nghệ Hoàng Hà

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài của mình em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới :
Thầy cô trong khoa quản trị doanh nghiệp – bộ môn quản trị chiến lươc doanh nghiệp thương mại đã tạo điều kiện cho em có cơ hội cọ xát thực tế, giúp cho sinh viên sắp ra trường như em hiểu hơn về chuyên môn của mình. Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại công ty CPCN Hoàng Hà, em đã nhận thấy tầm quan trong của công tác nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty và do đó với kiến thức còn hạn chế em đã lựa chon và quyết định nghiên cứu đề tài :“Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần Công nghệ Hoàng Hà
Em xin chân thành cảm ơn Ths Trần Thị Hoàng Hà hướng dẫn nhiệt tình để em có thể hoàn thanh thật tốt báo cáo tổng hợp, định hướng đề tài khóa luận, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Loan tận tình chỉ bảo về phương pháp cũng như các nội dung chi tiết trong bài khóa luận tốt nghiệp.

480
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc công ty, các anh, các chị của các phòng ban trong công ty đặc biệt là phòng kinh doanh đã quan tâm, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ em rất nhiều để em được hiểu rõ hơn những khó khăn trong công tác nâng cao khả năng cạnh tranh tại công ty.
Mặc dù em đã cố gắng nghiên cứu và tìm hiểu để tìm hiểu để hoàn thành tốt đề tài của mình tuy nhiên chắc chắn không thể tránh khỏi những khuyết điểm thiếu sót. Chính vì vậy em mong nhận đươc sự đánh giá quan tâm và những lời phê bình, đóng góp chân thành của các thầy cô giáo và những người quan tâm đến đề tài này nhằm hoàn góp phần nhỏ bé áp dụng hoạt động của công ty cũng như củng cố kiến thức và em rút ra được những kinh nghiệm về lĩnh vực này khi đi thị trường.
Em xin chân thành cảm ơn !

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
Danh mục bảng biểu
Danh mục sơ đồ, hình vẽ
Danh mực từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
3.Mục đích nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Kết cấu đề tài 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1.Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.1.1. Cạnh tranh 6
1.1.2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 7
1.1.3 Lợi thế cạnh tranh 8
1.2. Nội dung về công tác nâng cao khả năng cạnh tranh 8
1.2.1. Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 8
1.2.2. Các loại hình cạnh tranh 9
2.2.2. Các công cụ cạnh tranh 10
2.2.2.1. Giá cả 10
1.2.2.2. Chất lượng và đặc tính sản phẩm 11
1.2.2.3. Hệ thống kênh phân phối 12
1.2.2.4. Các công cụ cạnh tranh khác 12
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.2.3.1. Thị phần 13
1.2.3.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 13
1.2.3.3. Chi phí và tỷ suất chi phí 14
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.3.1.Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 14
1.3.2. Các nhân tố thuộc môi trường ngành 16
1.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp 18
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ HOÀNG HÀ. 20
2.1.Khái quát về công ty 20
2.1.1.Giới thiệu về công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà 20
2.1.2. Lĩnh vực ngành nghệ kinh doanh. 21
2.1.3.Cơ cấu tổ chức 21
2.1.4.Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CPCN Hoàng Hà. 23
2.2.Phân tích thưc trạng khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà trong 3 năm 2010-2012 24
2.2.1. . Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà 24
2.2.1.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô: 24
2.2.1.2. Các nhân tố thuộc môi trường ngành: 27
2.2.1.3.Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp: 28
2.2.2.Kết quả điều tra và đánh giá về khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà 29
2.2.2.1. Công cụ cạnh tranh của công ty Hoàng Hà 29
2.2.2.2.Chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà 34
2.2.2.3Các nguồn lực ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà 38
2.3.Các kết luận 41
2.3.1 Những điểm mạnh 41
2.3.2Những điểm yếu 42
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NẦNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CPCN HOÀNG HÀ 44
3.1 Phương hướng hoạt động 44
3.1.1. Mục tiêu kinh doanh của công ty 44
3.1.2 Phương hướng kinh doanh của công ty 45
3.1.3 Dự báo cơ hội, thách thức đối với công ty Cổ phần công nghệ Hoàng Hà 46
3.1.3.1 Dự báo cơ hội 46
3.1.3.2.Dự báo thách thức 47
3.2 Quan điểm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà 47
3.3 Đề xuát 1 số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà 48
3.3.1. Giải pháp về sản phẩm 48
3.3.2. Giải pháp về giá 50
3.3.3. Giải pháp về kênh phân phối 51
3.3.4. Nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại 51
3.3.5. Phát triển nguồn nhân lực 53
3.3.6. Ứng dụng B2B, B2C vào hoạt động kinh doanh 54
3.3.8. Hoàn thiện công tác nghiên cứu và đánh giá đối thủ cạnh tranh 54
3.3.7.Hoàn thiện công tác nghiên cứu và chăm sóc khách hàng 55
3.4.. Một số kiến nghị với Nhà nước 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

 

Danh mục bảng biểu

Stt Tên Bảng Trang
1 Bảng 2.1: Két quả hoạt động của công ty CPCN Hoàng Hà 24
2 Bảng 2.2: Mức độ ảnh hưởng của nhân tố vĩ mô đến khả năng cạnh tranh 32
3 Bảng 2.3: Sản phẩm phẩn mềm dự toán 34
4 Bảng 2.4: So sánh giá phần mềm của Hoàng Hà so với đối thủ cạnh tranh 35
5 Bảng 2.5; Hệ thống kênh phân phối của công ty 38
6 Bảng 2.6: Tình hình lợi nhuận của công ty 39
7 Bảng 2.7: Tình hình sử dụng chi phí của công ty trong 3 năm 2010-2012 40
8 Bảng 2.8: Các nguồn vốn và tài sản công ty 41
9 Bảng 2.9: So sánh nguồn tài chính của công ty Hoàng Hà
41
10 Bảng 2.10: Tình hình sủ dụng lao dộng của công ty 42
11 Bảng 3.1: Mục tiêu công ty năm 2010-2015 48
12 Biểu đồ 2.1: So sánh thị phần của công ty Hoàng Hà so với đối thủ cạnh tranh

Danh mục sơ đồ, hình vẽ
Stt Tên sơ đồ Trang
1 Sơ dồ 1.1: Ảnh hưởng của tố môi trường vĩ mô 17
2 Sơ dồ 1.2: Mô hình lực lượng cạnh tranh 23
3 Sơ dồ 3.1: Quy trình định giá mặt hàng ở công ty kinh doanh dịch vụ 40
4 Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty 23
3 Hình 2.2: Mô hình kênh phân phối 40

Danh mực từ viết tắt

STT Từ viết tắt
1 CPCN Cổ phần công nghệ
2 DN Doanh nghiệp
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 CNXH Chủ nghĩa xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế hiện nay cạnh tranh là yếu tố tất yếu. Đối với các doanh nghiệp thương mại cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ hàng hóa của mỗi doanh nghiệp nhưng cũng nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp dần hoàn thiện mình hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân doanh nghiệp đó Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và giá bán hàng hoá. Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn thiếu. Qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Do đó, việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết, nó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình hoạt động của sản xuất kinh doanh.
Tuy vậy không phải ở doanh nghiệp thương mại nào công tác nâng cao khả năng cạnh tranh cũng được quan tâm một cách đúng mức – đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, dẫn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm, tốn nhiều chi phí cho công tác bán hàng mà hiệu quả đem lại không cao. Ý thức được điều này nhiều doanh nghiệp đã có những đầu tư bước đầu cho công tác nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp nhưng do kinh phí có hạn nên việc đầu tư còn hạn chế, chưa có khoa học.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà em nhận thấy công ty cũng đã nhanh chóng thích ứng với cơ chế, từng bước tạo lập và dần nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. So với những ngày đầu thành lập, thị phần của công ty đã và đang ngày một mở rộng trên thị trường. Tuy nhiên, do mức độ cạnh tranh của ngành sản phầm phần mềm ngày càng gay gắt và quyết liệt với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn, nhỏ công ty phải đối đầu với rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh. Trong khi nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực của công ty còn nhiều hạn chế. Các công cụ cạnh tranh của công ty cũng chưa thực sự đạt hiệu quả.
Ban quản trị công ty cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng cạnh tranh, tuy vậy do quy mô doanh nghiệp còn hạn chế nên công tác này vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức. Thông qua phỏng vấn và tìm hiểu thông tin tại doanh nghiệp, em nhận thấy việc nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà còn chưa tốt, làm ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những tồn tại đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể hoàn thiện hơn nữa việc nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như việc nâng cao khả năng cạnh tranh nói chung tại doanh nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty.
2.Tống quan tình hình nghiên cứu đề tài
Luận văn tốt nghiệp đại học: “Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Phát triển phần mềm VASC”
Sinh viên thực hiện : Trần Thu Trang, khoa Quản trị doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại, năm 2003
Đề tài đã đưa ra được một số nội dung chủ yếu của vấn đề khả năng cạnh tranh trong doanh nghiệp. Tuy nhiên phần giải pháp thì còn chung chung chưa bám sát vào thực tế của công ty VASC.
Luận văn tốt nghiệp đại học: “Một số biện pháp marketing nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của khách sạn Thắng Lợi”
Sinh viên thực hiện :Nghiêm Thị Thu Anh, khoa Khách sạn du lịch, trường ĐH Thương Mại, năm 2003.
Luận văn này nghiêng về yếu tố marketing trong cạnh tranh, không đề cập được một cách đầy đủ về các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp đại học: “Một số biện pháp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long”
Sinh viên thực hiện :Bùi Thị Minh Hồng, khoa Quản trị doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại năm 2003
Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp và phân tích được một rõ nét với thực tế ở công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long.
Luận văn tốt nghiệp:”Nâng cao khả năng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ của công ty cổ phần Tân Phong”
Sinh viên thực hiện: Đinh Thị Kim Tuyến lớp K41A8, Đại Học Thương Mại
Đề tài tập trung giải quyết vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần Tân Phong thông qua nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên đề tài vẫn chưa nêu bật được khả năng cạnh tranh của công ty so với đối thủ cạnh tranh thông qua các công cụ giá cả.
Luận văn tốt nghiệp : “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Vinatrans trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Bách Khoa, Đại học Kinh tế Tp. HCM
Đề tài tập trung giải quyết vấn đề cạnh tranh thời kỳ đầu Việt Nam gia nhập WTO mà chưa có định hướng cho thời gian sắp tới khi Việt Nam chính thức thực hiện theo cam kết gia nhập WTO đó là ngành hàng hải mở cửa thị trường.
Luận văn tốt nghiệp: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh giao nhận vận tải hàng lẻ của công ty Vinalink”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Duy Minh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài tập trung giải quyết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của Vinalink thông qua các công cụ về giá, sản lượng, chất lượng dịch vụ.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của một số doanh nghiệp. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát về tình hình khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà.
3.Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục tiêu sau:
– Làm rõ một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
– Phân tích thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà trong thời gian qua.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi về không gian: Điều tra,nghiên cứu tại công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà tại thị trường Hà Nội
-Phạm vi về thời gian: Khóa luận nghiên cứu về tình hình khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà trong thời gian 3 năm gần nhất 2010-2012, đề xuát giải pháp từ 2013-2015
-Phạm vi về nội dung:
Từ những thực trạng về khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.
5. Phương pháp nghiên cứu
. * Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thông tin thứ cấp là những thông tin đã có sẵn hoặc là các kết quả nghiên cứu đã có từ trước được tập hợp về để phục vụ cho mục đích nghiên cứu hiện tại. Mục đích tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp là để có cái nhìn tổng quan về vị thế của công ty trên thị trường, tiềm lực của công ty cũng như ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tác động của công ty.
Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hai nguồn:
– Nguồn bên trong công ty: thu thập từ phòng kế toán và phòng kinh doanh. Các dữ liệu gồm: Báo cáo kết ủa hoạt động năm 2010 – 2012( Doanh thu, lợi nhuận ), báo cáo tài chính ( nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, thuế, thu nhập, cán bộ công nhân viên…), ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến, bảng danh mục sản phẩm, Website của công ty.
– Nguồn bên ngoài công ty: Tổng cục thống kê, báo kinh tế Việt Nam, Website: www.Vietrade.gove.vn
* Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
 Sử dụng bảng hỏi
Trong quá trình thực tập và viết khóa luận, phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp điều tra trực tiếp tại công ty CPCN Hoàng Hà.

viết thuê luận văn thạc sĩ
                                                                                                   viết thuê luận văn thạc sĩ

Hình thức điều tra được tiến hành dưới hình thức điền phiếu thăm dò. Phiếu thăm dò các câu hỏi được xây dựng dựa vào tính chất công việc của công ty và tình hình kinh doanh của công ty trong những năm gần đây. Đặc biệt là những câu hỏi về tình hình khả năng cạnh tranh công ty. Với những câu hỏi có trả lời sẵn và câu hỏi mở được đặt ra nhằm thu thập ý kiến cán bộ công nhân viên của công ty về tình hình khả năng cạnh tranh của công ty.
 Phương pháp phỏng vấn
Bên cạnh hình thức phiếu điều tra đó là hình thức phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo công ty. Những người được phỏng vấn đó là ông Vũ Văn Khoát (giám đốc), ông Trần Hoàng Anh trưởng phòng kinh doanh. Qua cuộc phỏng vấn tìm hiểu những ưu và nhược điểm đang tồn tại trong công tác cạnh tranh của công ty. Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, mục lục, nội dung đề tài của em bao gồm 3 chương:
Chương 1 : Những lý luận cơ bản về khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp Chương 2 : Phân tích và đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà.
Chương 3 :Đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần công nghệ Hòang Hà.CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Cạnh tranh
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau thì có các quan điểm cạnh tranh là khác nhau.
 Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ” Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận.
 Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980).
Có rất nhiều quan điểm về cạnh tranh song có thể tổng kết lại: cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các nhà kinh tế là làm tối đa hóa lợi ích.
Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa. Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Đã có khá nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan niệm khả năng cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Việc đưa ra một khái niệm chung nhất về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tình hình kinh tế luôn có sự thay đổi, biến động là không hề đơn giản.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó khả năng cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
Theo M. Porter [6], khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động, năng suất lao động là thước đo duy nhất về khả năng cạnh tranh.
Theo tác giả Vũ Trọng Lâm [10], khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ những quan niệm khác nhau trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực về mọi hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao với chi phí thấp, được thị trường chấp nhận. Nhờ đó doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thu được lợi nhuận, phát triển thị trường và thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Nâng cao khả năng cạnh tranh là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường.

1.1.3 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia).
Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được.
1.2. Nội dung về công tác nâng cao khả năng cạnh tranh
1.2.1. Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới , để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty tập đoàn xuyên quốc gia. Đối với các doanh nghiệp , cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi. Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường . Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển . Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển nhanh nhiều công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm tốt, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của con người. Người tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao về sản phẩm mà nhu cầu của con người thì vô tận, luôn có “ngách thị trường” đang chờ các nhà doanh nghiệp tìm ra và thoả mãn. Do vậy các doanh nghiệp phải đi sâu nghiên cứu thị trường , phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để qua đó có thể lựa chọn phương án phù hợp với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu khách hàng . Trong cuộc cạnh tranh này doanh nghiệp nào nhạy bén hơn thì doanh nghiệp đó sẽ thành công.
Tóm lại, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2.2. Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại.
• Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại:
– Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.
– Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.
– Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn.
• Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được phân thành hai loại:
– Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
– Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
• Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại:
– Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
– Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
– Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có nột hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.
• Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:
– Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai.
– Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố…)
2.2.2. Các công cụ cạnh tranh
2.2.2.1. Giá cả
Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hoá của cơ chế thị trường. Giá cả là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá sản phẩm mà người bán có thể dự tính nhận được từ người mua thông qua sự trao đổi giữa các sản phẩm đó trên thị trường.
Các chính sách để định giá trong cạnh tranh
– Chính sách giá thấp : Là chính sách định giá thấp hơn thị trường để thu hút khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro có thể xẩy ra đối với doanh nghiệp khi áp dụng chính sách giá này.
– Chính sách giá cao : Là chính sách định giá cao hơn giá thị trường hàng hoá. Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ độc quyền không bị cạnh tranh.
– Chính sách giá phân biệt : Nếu các đối thủ cạnh tranh chưa có mức giá phân biệt thì cũng là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh nghiệp. Chính sách giá phân biệt của doanh nghiệp được thể hiện là với cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và mức giá đó được phân biệt theo các tiêu thức khác nhau.
– Chính sách phá giá : Giá bán thấp hơn giá thị trường, thậm chí thấp hơn giá thành.Doanh nghiệp dùng vũ khí giá làm công cụ cạnh tranh để đánh bại đối thủ ra khỏi thị trường. Nhưng bên cạnh vũ khí này doanh nghiệp phải mạnh về tiềm lực tài chính, về khoa học công nghệ, và uy tín của sản phẩm trên thị trường. Việc bán phá giá chỉ nên thực hiện trong một thời gian nhất định mà chỉ có thể loại bỏ được đổi thủ nhỏ mà khó loại bỏ được đối thủ lớn.
1.2.2.2. Chất lượng và đặc tính sản phẩm
Nếu lựa chọn sản phẩm là công cụ cạnh tranh thì phải tập trung vào giải quyết toàn bộ chiến lược sản phẩm, làm cho sản phẩm thích ứng nhanh chóng với thị trường. Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm trở thành công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp trên thị trường bởi nó biểu hiện sự thoả mãn nhu cầu khách hàng của sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm ngày càng cao tức là mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn dần đến sự thích thú tiêu dùng sản phẩm ở khách hàng tăng lên, do đó làm tăng khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên nhiều khi chất lượng quá cao cũng không thu hút được khách hàng vì khách hàng sẽ nghĩ rằng những sản phẩm có chất lượng cao luôn đi kèm với giá cao. Khi đó, họ cho rằng họ không có đủ khả năng để tiêu dùng những sản phẩm này.
Nói tóm lại muốn sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh được trên thị trường thì doanh nghiệp phải có chiến lược sản phẩm đúng đắn, tạo ra được những sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường với chất lượng tốt.
1.2.2.3. Hệ thống kênh phân phối
Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần phải lựa chọn thị trường, nghiên cứu thị trường và lựa chọn kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt được hiệu quả cao. Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành 5 loại sau:Đại lý, bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng, người sản xuất. Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng.
Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục tiêu giải phóng nhanh chóng lượng hàng tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy sản xuất nhờ vậy tăng nhanh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.2.4. Các công cụ cạnh tranh khác
a. Dịch vụ sau bán hàng: Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàng, thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm tốt các dịch vụ sau bán hàng.
b. Phương thức thanh toán:Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử dụng, phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
c. Vận dụng yếu tố thời gian: Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ không phải là yếu tố cổ truyền như nguyên liệu lao động. Muốn chiến thắng trong công cuộc cách mạng này, các doanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng, phải chớp lấy thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu, triển khai sản xuất, nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh trước khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Có khá nhiều chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu tiêu đặc trưng nhất để đánh giá tình hình khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp đó là chỉ tiêu thị phần, chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, chỉ tiêu chi phí và tỷ suất chi phí.
1.2.3.1. Thị phần
Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh. Thị phần càng lớn thể hiện sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh.
Thị phần của doanh nghiệp được chia thành các hai sau:
• Thị phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất các doanh nghiệp khác bán trên cùng một thị trường.
Thị phần của doanh nghiệp =
Trong đó: Qdn : Khối lượng hàng hóa của doanh nghiệp tiêu thụ được
Q: Tổng khối lượng hàng hóa cùng loại tiêu thụ trên một thị trường
Hoặc:
Thị phần của doanh nghiệp =
Trong đó: Mdn : doanh thu của doanh nghiệp đạt được
M : tổng doanh thu của toàn ngành trên cùng một thị trường
• Thị phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối: Là tỷ lệ giữa phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp so với phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành trên cùng một thị trường.
Thị phần tương đối =
Trong đó: Mdn : doanh thu của doanh nghiệp đạt được
Mđt : doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành trên cùng thị trường.
Thị phần được coi là công cụ để đo lường vị thế của doanh nghiệp trong thị trường. Do đó, doanh nghiệp phải duy trì và phát triển thị phần.
1.2.3.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ các chi phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao thì chắc chắn doanh nghiệp đó phải có doanh thu cao và chi phí thấp.
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế so với doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuân theo doanh thu = Lợi nhuận sau thuế x100%
Doanh thu tiêu thụ
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của đồng vôn kinh doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh.

Tỷ suất lợi nhuân theo vốn kinh doanh = Lợi nhuận sau thuế x100%
Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

1.2.3.3. Chi phí và tỷ suất chi phí
Chi phí là chỉ tiêu phản ánh số tiền doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu chi phí thấp doanh nghiệp có thể định giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng và thu được lợi nhuận cao hơn.
Tỷ suất chi phí kinh doanh là chỉ tiêu tương đối trọng phản ánh tỷ lệ phần trăm của chi phí trên doanh thu bán hàng. Chỉ tiêu này thể hiện trình độ tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, chất lượng quản lý và sử dụng chi phí của doanh nghiệp.
Công thức tỷ suất chi phí :
F’ =
Trong đó: F’: Tỷ suất chi phí kinh doanh
F: Tổng mức chi phí kinh doanh
M: Tổng doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1.Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến mọi ngành kinh doanh theo những cách nhất định. Trong môi trường vĩ mô có bốn yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Sơ đồ 1.1 : Sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế quốc gia ổn định hay bất ổn có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tính ổn định của nền kinh tế được thể hiện dựa trên sự ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát.
Nền kinh tế ổn định, tăng trưởng tốt, nâng cao được mức thu nhập, đời sống dân cư, từ đó yêu cầu của họ cũng tăng lên đối với các sản phẩm dịch vụ, và các doanh ngiệp cũng phải nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình để thỏa mãn nhu cầu đó. Khi kinh tế ổn định và tăng trưởng, tỷ suất lợi nhuận cao, nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường, cường độ cạnh tranh cũng sẽ tăng cao và ngược lại.
Các yếu tố như tỷ giá hối đoái, lãi suất cho vay… cũng có tác động,tỷ giá hối đoái biến động sẽ tác động ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Môi trường chính trị – pháp luật:
Các yếu tố về chính trị – phát luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến động kinh doanh của các doanh nghệp. Môi trường chính trị, pháp luật ổn định, rõ ràng và mở rộng là nền tảng cho sự phát triển các doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, làng mạnh, tâm lý tin tưởng để các doanh nghiệp phát triển đầu tư sản xuất, cải tiến trang thiết bị từ đó sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời hạn chế được các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh của những doanh nghiệp xấu.
* Môi trường văn hóa xã hội
Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, phong cách, văn hóa…của người dân có ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua cách thức tiêu dùng của khách hàng. Mỗi khu vực,thị trường, vùng miền khác nhau thì người tiêu dùng cách thức, yêu cầu khác nhau trong lựa chọn sản phẩm tiêu dùng, doanh ngiệp cần nắm bắt các yếu tố về môi trường văn hóa xã hội để điều chỉnh các sản phẩm, dịch vụ của mình cho phù hợp nhằm tối đa hóa doanh thu, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên từng phân đoạn thị trường.
* Môi trường khoa học,công nghệ
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ tạo ra những nguyên vật liệu mới, thiết bị máy móc hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tăng thêm chất lượng hàng hóa, dịch vụ, từ đó góp phần tăng thêm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Ngày nay, khoa học công nghệ đang thay đổi nhanh chóng, các doanh ngiệp cần chủ động nắm bắt, đổi mới khoa học công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh của mình so với các đối thủ.
1.3.2. Các nhân tố thuộc môi trường ngành
Doanh nghiệp chịu sự tác động của các yếu tố thuộc môi trường ngành như sau:
Sơ đồ 1.2 : Mô hình lực lượng cạnh tranh
* Đối thủ hiện tại
Doanh nghiệp cần xác định đối thủ cạnh tranh hiện tại của mình là ai cũng như năng lực cạnh tranh và vị thế hiện tại của họ trên thị trường thông qua nghiên cứu, tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu của họ trên thị trường. Từ đó đề ra những chiến lược cạnh tranh hiệu quả để không những giữ vững được thị phần mà còn thu hút thêm được nhiều khách hàng. Mức độ cạnh tranh giữa các cty hiện tại trong ngành thể hiện ở: các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành, mức độ tập trung của ngành, chi phí cố định/giá trị gia tăng, tình trạng tăng trưởng của ngành, khác biệt giữa các sản phẩm, các chi phí chuyển đổi, tình trạng sàng lọc trong ngành.
* Đối thủ mới tiềm ẩn
Đây là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh với doanh nghiệp nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại và nếu các đối thủ tiềm ẩn này thực sự gia nhập thì mức độ cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn. Do đó các doanh nghiệp hiện tại trong ngành cần tạo ra hàng rào cản trở sự gia nhập cao dựa trên các yếu tố như: các lợi thế chi phí tuyệt đối, sự hiểu biết về chu kỳ lao động, khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào, tính kinh tế theo quy mô, yêu cầu về vốn, các sản phẩm độc quyền…
* Khách hàng
Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong muốn được thỏa mãn.
Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một doanh nghiệp. Nhìn chung, sức mạnh khách hàng lớn tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một số ít người mua. Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt giá. Nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm.
* Nhà cung ứng
Một ngành sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô – bao gồm lao động, các bộ phận cấu thành và các đầu vào khác. Đòi hỏi này dẫn đến mối quan hệ bên mua – bên cung cấp giữa các doanh nghiệp và các hãng cung cấp các nguyên liệu thô để có thể cung cấp sản phẩm. Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp. Những nhà cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất, ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách, chẳng hạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành.
* Các sản phẩm thay thế
Trong mô hình của Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác. Theo các nhà kinh tế, nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế. Độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế. Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Các bên liên quan khác
Bao gồm các cổ đông, công đoàn, chính phủ, các tổ chức tín dụng, hiệp hội thương mại, dân chúng, các nhóm quan tâm đặc biệt.
1.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp
* Nguồn lực về tài chính
Nguồn lực về tài chính ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng tài chính ở đây là quy mô tài chính của doanh nghiệp, tình hình nguồn vốn,đầu tư,…Tình hình tài chính tốt sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư, đổi mới máy móc, trang thiết bị, đầu tư vào các chương trình quảng cáo marketing, giới thiệu sản phẩm,…từ đó nâng cao chất lượng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
* Nguồn lực về cơ sở vật chất kĩ thuật
Thể hiện ở trình độ khoa học kĩ thuật của doanh nghiệp, nếu một doanh nghiệp có trình độ khoa học kĩ thuật hiện đại, phù hợp thì có điều kiện tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, từ đó tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
* Nguồn nhân lực
Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động, cũng như vậy trong hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực rất quan trong với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đầu tiên là trình độ tổ chức, quản lý của đội ngũ lãnh đạo, quản lí doanh nghiệp, đây là lực lượng ra các quyết định về hoạt động của công ty, mọi quyết định của lực lượng này sẽ tác động tới các hoạt động khác bên dưới như các phòng ban, đơn vị sản xuất,… lực lượng này nếu có trình độ cao sẽ ra các quyết định đúng đắn, hợp lí, ngược lại sẽ có các quyết định sai lầm, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, giảm sức cạnh tranh. Tiếp đến là hoạt động của các phòng ban, các đơn vị sản xuất, trực tiếp thực hiện kế hoạch… cần có kinh nghiệm thực tiễn, am hiểu chuyên môn, nắm bắt thị trường, ý thức, kỉ luật lao động… giúp doanh nghiệp có sức bật mạnh mẽ, tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường.

* Bầu không khí trong doanh nghiệp
Bầu không khí tập thể trong công ty có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có tác động lớn đến hiệu quả làm việc của CB CNV trong công ty. Nếu doanh nghiệp tạo được bầu không khí làm việc khẩn trương, năng động, một bầu không khí mà ở đó mọi thành viên đều hết lòng tin tưởng và hợp tác với nhau hướng đến hiệu quả công việc làm gia tăng giá trị cho công ty và cho khách hàng khì doanh nghiệp đó chắc chắn sẽ gặt hái được những thành công lớn.
Với không khí làm việc thân mật, khuyến khích trao đổi và truyền thông, doanh nghiệp sẽ có thêm một hình thức đãi ngộ phi tài chính để thu hút và giữ chân người tài, góp phần nâng cao và củng cố năng lực đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ HOÀNG HÀ.

2.1.Khái quát về công ty
2.1.1.Giới thiệu về công ty cổ phần công nghệ Hoàng Hà
Sự hình thành và phát triển của công ty
Hình thành và phát triển từ năm 2000 từ khi còn là một Trung tâm tư vấn và phát triển phần mềm Quản lý và Hỗ trợ doanh nghiệp.Đến năm 2006, với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường. Ban lãnh đạo và những thành viên trung thành nhiệt huyết trong trung tâm đã cùng nhau góp vốn, góp sức thành lập Công ty có tên gọi: “Công ty Cổ phần Công nghệ Hoàng Hà” với mong “Mang đến cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất và dịch vụ hoàn hảo”
Tên gọi đầy đủ:CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ HOÀNG HÀ
• Trụ sở chính : Số 1114. Tòa nhà CT1A – Đơn nguyên 1. Khu đô thị Mỹ Đình 2. Từ Liêm. Hà Nội
• Tel : (04) 22. 195. 191 – (04) 22. 404. 739
• Fax : (04) 37. 870. 240
• Website : www.DutoanG8.com
• Email : dutoang8@yahoo.com hoặc khoatnv@yahoo.com
• Mã số thuế : 0102075741
Các chi nhánh và đại lý của công ty:
Chi nhánh tại Hà Nội: Phòng 1906. Tầng 19, tòa nhà CT2. Khu đô thị Văn Khê.Quận Hà Đông. TP Hà Nội
Chi nhánh TP. HCM : Số 34/9/17. Đường 21. Phường 8. Q Gò Vấp. TP HCM
Đại lý tại TP HCM : Công ty CP Tư vấn đầu tư xây dựng DEGICO( H2B – Quang Trung. P10. Quận Gò Vấp. TP HCM )
Đại lý tại Cần Thơ: Ông Nguyễn Viết Thắng (Số 36D. Đường 3-2. Phường Hưng Lợi. Quận Ninh Kiều. TP Cần Thơ)
Đại lý tại Nghệ An: Công ty cổ phần Đào tạo tư vấn giáo dục quốc tế (INTEC)
(Số 247 Lê Duẩn, TP Vinh, Nghệ An)
Đại lý tại Đà Nẵng: Công ty cổ phần Nam Vinh ( 65 Tăng Bạt Hổ, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng).
2.1.2. Lĩnh vực ngành nghệ kinh doanh.
Công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin chuyên lập trình và cung cấp các phần mềm Dự toán – Dự thầu phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy lợi, viễn thông, ngành điện và xây lắp.
2.1.3.Cơ cấu tổ chức
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty
(Nguồn: Phòng hành chính của công ty Hoàng Hà)
– Giám đốc là người đại diện pháp nhân cho công ty, chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật về toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty. Là người điều hành cao nhất, ra mọi quyết định quan trọng của công ty.
– Phòng hành chính, nhân sự là các phòng chức năng của công ty có nhiệm vụ tham mưu cho ban giám đốc trong việc tổ chức nhân sự. Thực hiên công tác tuyển dụng, bố trí nhân viên, chấm công, tính lương và theo dõi tình hình nộp BHYT cho người lao động. Lưu trữ thông tin về doanh nghiệp và người lao động.
-Phòng tài chính- kế toán có chức năng phản ánh một cách trung thực và khách quan các nghiệp vụ kế toán xẩy ra giúp nhà lãnh đạo nắm rõ tình hình tài chính, tài sản, hàng hóa và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi có yêu cầu để ban giám đốc có thể đưa ra được giải pháp phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
-Phòng kỹ thuật Chịu trách nhiệm về việc lắp đặt các sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép, phối hợp cùng với phòng kinh doanh để tư vấn cho khách hàng những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng, đồng thời phối hợp với phòng bảo hành, chăm sóc khách hàng để giải quyết những vấn đề mà khách hàng gặp phải khi sử dụng dịch vụ.
-Phòng hỗ trợ khách hàng: Chịu trách nhiệm về dịch vụ sau bán của Công ty, có trách nhiệm nhận thông tin từ phía khách hàng thông qua đường dây nóng, fax và email. Bộ phận này có thể trả lời tức khắc cho khách hàng các sự cố thông thường mà khách hàng mắc phải, hướng dẫn cho khách hàng để có thể khắc phục được lỗi của hệ thống. Trong trường hợp không thể xử lý được ngay, phòng bảo hành sẽ kết hợp với phòng kỹ thuật để đưa ra giải pháp tốt nhất để xử lý.
Mô hình cấu trúctổ chức của công ty được xây dựng theo mô hình cấu trúc tổ chức theo chức năng nhằm phù hợp với lĩnh vực hoạt động của công ty. Mô hình tổ chức này có những ưu điểm sau: hỗ trợ nhân viên nhận diện khá chính xác về công việc và có định hướng sự nghiệp rõ ràng trong bộ phận chức năng của mình, cho phép chuyên môn hóa sâu, dễ quản lý, tạo ra lợi thế về nguồn lực và quy mô khi vận hành.Đặc điểm nhân lực kinh doanh của công ty:Số nhân viên phòng kinh doanh: 19 người, trong đó trình độ đại học trở lên là 6 người; trình độ cao đẳng là 09 người.Số nhân viên kinh doanh tốt ngiệp Đại học Thương mại: 02 người..

2.1.4.Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CPCN Hoàng Hà.
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty CPCN HOÀNG HÀ
(2010– 2012)
Đơn vị: Triệu đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh năm
2011/ 2010 So sánh năm
2012/ 2011
Chênh lệch Tỷ lệ
% Chênh lệch Tỷ lệ
%
1 Doanh thu bán hàng 3.545 4.998 6.500 1.453 40,99 1.502 30,05
2 Giá vốn hàng bán 2.618 3.698 4.682 1.080 41,25 984 26,61
3 Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 742 1.023 1.495 281 37,87 472 46,14
4 Lợi nhuận trước thuế 185 277 323 92 49,73 46 16,61
5 Thuế thu nhập doanh nghiệp 46,3 69,3 56,5 23,0 49,68 (12,8) (18,47)
6 Lợi nhuận sau thuế 138,8 207,8 266,5 69,0 49,71 58,7 28,25
( Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty CPCN Hoàng Hà có sự tăng trưởng về doanh thu qua các năm từ 2010 đến 2011 : năm 2010 doanh thu của công ty chỉ đạt 3.545 triệu đồng thì đến năm 2012 doanh thu của công ty đã đạt 6.500 triệu đồng. Xét về lợi nhuận mà công ty đạt được thì năm 2011 lợi nhuận của công ty là 207,8 triệu đồng tăng so với năm 2009 là 49,71%; lợi nhuận năm 2012của công ty tăng 28,25% so với năm 2011. Con số năm 2011 và 2010 chênh lệch nhiều như vậy là do 2010 năm kinh doanh đầu tiên của công ty nên gặp rất nhiều khó khăn.
Sang năm 2012 do Công ty chú trọng đẩy mạnh chiến lược cạnh tranh, tìm kiếm khách hàng đồng thời với khối lượng công việc ngày càng tăng lên nên công ty đã tăng thêm số lượng nhân viên vì thế mà chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2012 tăng lên 1.495 triệu đồng, tăng 46,14% so với năm 20101 Với việc đầu tư đúng và kịp thời Công ty đã gặt hái được những thành công nhất định cụ thể nhất là doanh số công ty đạt được năm 2012 là 6.500 triệu đồng cho thấy chiến lược của công ty có hiệu quả rõ rệt.
Qua những số liệu và phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Hoàng Hà trong 3 năm 2010-2012 như trên, có thể thấy công ty Hoàng Hà đã dần khẳng định được khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường.
Thị phần của công ty ngày càng được mở rộng. Doanh thu qua các năm đều tăng. Tuy nhiên công tác quản lý chi phí chưa thực sự hiểu quả khiến lợi nhuận chưa xứng đáng với tiềm lực, làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.
2.2.Phân tích thưc trạng khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà trong 3 năm 2010-2012
Để tìm hiểu cụ thể các vấn đề còn tồn tại của công ty trong công tác nâng cao khả năng cạnh tranh và phương hướng giải quyết. Với 25 phiếu điều tra được phát cho các đối tượng, số phiếu thu về là 22 và số phiếu hợp lệ để sử dụng cho việc tổng hợp là 20. Trong đó có 12 đối tượng điều tra là các cấp quản lý, cán bộ công nhân viên của công ty Hoàng Hà và 8 đối tượng là khách hàng của công ty. Tổng hợp và phân tích các phiếu điều tra thì thu được kết quả như sau
2.2.1. . Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà
2.2.1.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:
* Môi trường kinh tế: Sau khi Việt Nam ra nhập WTO cũng là lúc mở ra nhiều cơ hội và thách thức. Bên cạnh những tác động thuận chiều đó làm lộ ra những bất cập của nền kinh tế Việt Nam: cạnh tranh gay gắt, lạm phát, kỹ năng nguồn nhân lực còn yếu kém. Các quan hệ thị trường bị thu hẹp bởi các quan hệ hành chính, các quyết định về tăng và giảm thuế, hạn ngạch xuất khẩu….Doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những bất ngờ từ các phía: ngân hàng, tín dụng, các cơ quan nhà nước. Kinh tế năm 2011 có nhiều biến động và không ổn định. Các khó khăn kinh tế sẽ chuyển thành các vấn đề xã hội: việc làm, thu nhập.
Theo số liệu điều tra có 50% số phiếu được phỏng vấn nhận xét môi trường kinh tế ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của công ty, 33,3% cho rằng ảnh hưởng ở mức trung bình và 16,7% cho là ảnh hưởng ít.
Chính Phủ có một vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ… Các chính sách, đường lối, phương hướng của Nhà nước luôn có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập với sự tràn vào của các doanh nghiệp lớn trên thế giới hiện nay. Vì thế công ty cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề này, thường xuyên theo dõi tin tức, biến động kinh tế, chính trị, pháp luật đưa ra những biện pháp đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả.
* Môi trường khoa học, công nghệ: Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Đã từ lâu khoa học công nghệ trở thành một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuy là công ty thương mại đơn thuần song công ty Hoàng Hà cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ.
Công nghệ thông tin ở Việt Nam phát triển một thời gian chưa dài, việc áp dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vực của đời sống chưa phổ biến rộng rãi. Sau khi Việt Nam hội nhập với quốc tế, thì nền kinh tế có nhiều thay đổi, lĩnh vực phần mềm cũng được đầu tư nhiều hơn. Tuy nhiên năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi xu hướng chung đó làm cho giá cả hàng hóa thay đổi, kéo theo sự ảnh hưởng đến sự phát triển và tieu thụ của phần mềm dự toán của công ty
Có 25% cán bộ nhân viên được phỏng vấn nhận xét sự ảnh hưởng của nhân tố khoa học công nghệ đến khả năng cạnh tranh của công ty là nhiều, 33,3% cho là bình thường và 41,7% cho là ít.
* Môi trường chính trị, pháp luật: Các nhân tố chính trị, luật pháp tác động đến doanh nghiệp theo nhiều chiều hướng khác nhau. Sự biến động về chính trị cũng như các quy định của pháp luật có liên quan đến ngành kinh doanh văn phòng phẩm có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ cho ngành.Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tình hình chính trị khá ổn định, quốc phòng an ninh được củng cố. Đây là một trong những yếu tố quan trọng cho công ty Hoàng Hà yên tâm đầu tư sản xuất, cải tiến công nghệ máy móc, mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh. Nó góp phần tạo hành lang pháp lý cho công ty hoạt động.
Có 42% cán bộ nhân viên cho rằng môi trường chính trị, pháp luật ảnh hưởng đến nhiều đến hoạt động kinh doanh của công ty, 42% cho rằng ảnh hưởng ở mức bình thường và 16% nhận xét là ít.
Trong điều kiện như hiện nay Đảng và Nhà nước ngày càng có nhiều chính sách phục vụ cho sự phát triển công nghệ thông tin, chính vì vậy cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin ngày càng lớn. Nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, công cuộc đi lên xây dựng CNXH không thể thiếu công nghệ thông tin đưa vào ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên còn nhiều hạn chế trong hành lang pháp lý cần phải được cải thiện phù hợp hơn với lộ trình quốc tế.
*Môi trường văn hóa- xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập trung bình, phân phối thu nhập, lối sống, học thức, các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống, điều kiện sống. Phong cách tiêu dùng của mỗi tập khách hàng của công ty là khác nhau.
Khi được phỏng vấn có 33,3% nhân viên cho rằng môi trường văn hóa xã hội ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh của công ty, 41,7% cho rằng ảnh hưởng ở mức trung bình và 25% nhận xét là ít ảnh hưởng.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của mình đòi hỏi công ty Hoàng Hà phải có những chiến lược sản phẩm cụ thể, việc lựa chọn sản phẩm kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhu cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng. Công ty cần nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố văn hóa, xã hội để từ đó hiểu được và thỏa mãn nhu cầu của thị trường cũng như khách hàng

Bảng 2.2 : Mức độ ảnh hưởng của môi trường vĩ mô đến
khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà
Các nhân tố Nhiều (%) Trung bình (%) Ít(%)
Kinh tế 50 33,3 16,7
Chính trị, pháp luật 42 42 16
Văn hóa, xã hội 33,3 41,7 25
Khoa học công nghệ 25 33,3 42

2.2.1.2. Các nhân tố thuộc môi trường ngành:
* Khách hàng: Khách hàng là một yếu tố cực kỳ quan trọng, họ cung cấp nguồn sống cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại được thì phải đáp ứng được nhu cầu của họ, làm cho họ mua hàng của doanh nghiệp. Nhưng nhu cầu của họ lại rất khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, tâm lý, văn hóa… vì vậy doanh nghiệp phải nắm bắt được nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau để có thể cung cấp được các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của họ.
Có tới 75% số phiếu nhận xét sức ép của khách hàng đối với khả năng cạnh tranh của công ty là rất lớn. Chỉ có 15% số phiếu cho là bình thường.
Khách hàng là yếu tố đóng vai trò quyết định, tiên quyết cho thành công của một chiến lược kinh doanh. Khách hàng chính của công ty là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy lợi, viễn thông, ngành điện và xây lắp
Họ đưa ra các yêu cầu đối với công ty chủ yếu là về giá, chất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ. Công ty phải luôn tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn khách hàng một cách tốt nhất. Công ty cũng luôn chú ý đến thời hạn giao hàng. Nếu công ty giao hành trễ hẹn có thể làm mất những khách hàng quen, giảm thị phần và dẫn đến khả năng cạnh tranh của công ty giảm sút trên thị trường.
Tóm lại sức ép của khách hàng trên thị trường đối với khả năng cạnh tranh của công ty Hoàng Hà là rất lớn. Công ty thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng tức là khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường được nâng cao
* Nhà cung ứng: Khi được hỏi về nhà cung cấp có 89% cho rằng sự ảnh hưởng của nhà cung cấp đến khả năng cạnh tranh của công ty là bình thường .Các sản phẩm Dự toán của công ty do các chuyên viên kỹ thuật của công đảm nhận thực hiện và thiết kế. Do đó công ty không bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp, không gặp các vấn đề như ép giá, có thể đảm bảo cung cấp sản phẩm cho khách hàng theo đúng hợp đồng
* Đối thủ cạnh tranh: Có 100% số phiếu cho rằng sức ép của đối thủ cạnh tranh đối với công ty là rất lớn. Có 17% số phiếu cho rằng những đối thủ tiềm ẩn gây nhiều ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty. 50% cho rằng ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là bình thường. 33% cho rằng ảnh hưởng ít. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh là việc rất lớn và khó có thể tránh khỏi. Hiện nay trên thị trường cũng đã xuất hiện rất nhiều các nhà cung cấp các sản phẩm phần mềm ứng dụng, dịch vụ như công ty cổ phần tin học Duy Việt, công ty cổ phần tin học Bạch Kim và việc cạnh tranh với nhau là rất khó khăn.
2.2.1.3.Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp:
* Nguồn nhân lực: Hoàng Hà đang có trong tay một đội ngũ cán bộ có tri thức, có trình độ công nghệ thông tin. Đa số nhân viên của công ty là cán bộ trẻ, năng động và có nhiều sáng tạo, tiềm năng.
Để phát triển thị trường tốt các nhà quản trị của công ty Hoàng Hà cần có chiến lược quản trị nhân sự hiệu quả, khai thác hết được tiềm năng đội ngũ nhân viên của mình. Muốn vậy, công ty phải có cơ cấu tổ chức quản trị hợp lý, tạo ra tính cân đối giữa các bộ phận, đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh của công ty nhằm tạo khả năng cạnh tranh hiệu quả cho công ty.
* Nguồn lực tài chính: Một doanh nghiệp có sức sống là doanh nghiệp có khả năng về tài chính vững chắc, đủ mạnh và luôn được củng cố trong quá trình kinh doanh. Có được nguồn tài chính lớn mạnh đảm bảo được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, có khả năng mở rộng sản xuất, là một thế mạnh trong cạnh tranh giúp công ty tranh thủ được những thời cơ trong kinh doanh.
Khi được hỏi về nguồn lực tài chính của công ty,có 8,4% số phiếu được hỏi cho rằng nguồn lực tài chính của công ty mạnh, 33,3% nhận xét ở mức trung bình, 58,3% nhận xét là yếu.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty bao gồm trụ sở, hệ thống văn phòng, hệ thống thiết bị văn phòng,….Hiện nay công ty đã có trụ sở được xây dựng khá khang trang.

*Bầu không khí trong công ty
Quan hệ, cách xưng hô giữa cấp trên với cấp dưới rất thân mật, cởi mở, không có thái độ trịnh thượng. Điều này sẽ góp phần giảm bớt khoảng cách giữa các cấp, tạo nên sự hòa đồng trong toàn bộ công ty. Mọi người trong công ty không chỉ quan tâm tới nhau trong công việc, trao đổi kinh nghiệm làm việc với nhau mà còn giúp đỡ nhau trong cả cuộc sống thường ngày. Không khí làm việc trong công ty rất thoải mái, thân thiệt giúp mọi thành viên có thể hiểu, tin tưởng lẫn nhau và có cơ hội đóng góp ý kiến một cách thẳn thắn trong công việc, giúp công ty có những cơ hội phát triển tốt hơn. Đây là một yếu tố khá quan trọng làm nên sức cạnh tranh cho công ty, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.

2.2.2.Kết quả điều tra và đánh giá về khả năng cạnh tranh của công ty CPCN Hoàng Hà
2.2.2.1. Công cụ cạnh tranh của công ty Hoàng Hà
a Về sản phẩm:
Công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin chuyên lập trình và cung cấp các phần mềm Dự toán – Dự thầu phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy lợi, viễn thông, ngành điện và xây lắp. Cụ thể là sản phẩm phần mềm Dự toán G8. Danh mục các chủng loại sản phẩm phần mềm DỰ TOÁN DỰ THẦU G8 mà công ty cung cấp bao gồm:

Bảng 2.3.: Sản phẩm phần mềm dự toán
STT Chủng loại sản phẩm
1 Dự toán G8 – Amateur
2 Dự toán G8 – Beginner
3 Dự toán G8 – Professional
4 Dự toán G8 – Enterprise
Do sự thay đổi và cập nhật liên tục về công nghệ và đòi hỏi ngày càng cao của các doanh nghiệp về khả năng thích ứng và tiện lợi trong sử dụng đối với sản phẩm Dự toán G8. Do đó sản phẩm dự toán G8 của công ty cũng không ngừng được cập nhật.
Hiện nay công ty đã gửi tới khách hàng phần mềm Dự toán – dự thầu G8 phiên bản 2008 và phần mềm Dự toán – dự thầu G8 phiên bản mới nhất (2010). Đây là phiên bản được hoàn thiện một cách hoàn chỉnh khắc phục được những hạn chế của các phần mềm Dự toán khác, với các tính năng và tiện ích tốt nhất nhằm tăng hiệu quả làm việc và độ chính xác cho người sử dụng cũng như các doanh nghiệp…Với các các tính năng ứng dụng hoàn toàn mới như:
* Giao diện thân thiện giống phần mềm Microsoft Excel
* Có nhiều cách chiết tính, dự thầu phục vụ cho việc làm thầu của doanh nghiệp
* Có khả năng xuất sang Microsoft Excel với đầy đủ công thức, định dạng, v.v…
* Có khả năng lấy tiên lượng dự toán từ bất kỳ 1 dự toán nào như dự toán 97 năm 1997,……năm 2007 hoặc tiên lượng làm trên Excel
* Lập tiến độ thi công, ghi bản vẽ sang Autocad.
* Có khả năng thẩm định công ttrình để tìm ra sự sai lệch về khối lượng, đơn giá.
* Có khả năng kết nối các tiên lượng lại thành 1 tiên lượng duy nhất.
* Dùng đa đơn giá, đa hạng mục trong 1 công trình mà không cần tách 1 hạng mục thành 1 file như các phần mềm dự toán khác
* Cơ sở dữ liệu hiệu chỉnh dễ dàng, trực quan và đặc biệt là có đủ đơn giá, định mức của 64 Tỉnh, Thành phố.
b.Về giá: Giá là một yếu tố nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại nói riêng vì nó liên quan trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng như liên quan đến chi phí và lợi ích của người tiêu thụ, do đó nó một công cụ thu hút khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Giá là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng thắng thầu cung cấp sản phẩm quản lý cho các cơ quan, doanh nghiệp cũng như khả năng các đại lý mua hàng của công ty CPCN Hoàng Hà.
Công ty định giá theo phương pháp cạnh tranh. Hoàng Hà nhận thấy rằng giá cả của đối thủ cạnh tranh và phản ứng của họ về giá ảnh hưởng không nhỏ đến việc định giá của công ty. Người tiêu dùng đánh giá về giá trị và giá cả của một sản phẩm dựa trên những giá cả và giá trị của sản phẩm tương đương. Chiến lược định giá của công ty cũng có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh. Một chiến lược giá cao, mức lời cao, có thể thu hút sự cạnh tranh, trong khi một chiến lược giá thấp, mức lời thấp có thể làm nản các đối thủ cạnh tranh hay làm họ rút lui khỏi thị trường. Hoàng Hà luôn theo sát giá cả và chất lượng của đối thu. Công ty thường cử người đi khảo giá và so sánh các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và điều tra cảm nhận của khách hàng về giá cả và chất lượng của đối thủ cạnh tranh.
Hoàng Hà áp dụng chiết khấu số lượng là sự giảm giá cho những khách hàng mua nhiều. Chiết khấu này áp dụng cho mọi đối tượng khách hàng nhằm khích lệ họ mua nhiều nhờ giảm được nhiều phí tổn và tăng lợi nhuận cho công ty. Giá của sản phẩm cũng thay đổi dựa trên số lượng đặt hàng của khách hàng.Số lượng bản mua càng nhiều thì giá tiền trên mỗi bản càng thấp.Với những khách hàng ở các miền khác nhau trong nước, công ty đã có một hệ thống các chi nhánh và đại lý.Bởi vậy giá của sản phẩm là cùng một giá đối với các khách hàng ở các vùng miền khác nhau.Giá củ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *