Những yếu tố tác động đến thực trạng bỏ học của học sinh Trung Học Phổ Thông ở Tỉnh Bạc Liêu

Like để cảm ơn người viết

1. Lý do chọn đề tài
Từ lâu giáo dục đã chứng minh được vai trò lịch sử của mình trong lịch sử . Trình độ phát triển của nền giáo dục cũng là tiêu chuẩn đo lường trình độ phát triển kinh tế- xã hội và mang đậm ý nghĩa nhân văn. Đặc biệt trong các thập niên phát triển cuối cùng của thế kỷ 20, các chuyên gia quốc tế đã phân tích, thừa nhận và khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của giáo dục trong sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia “ là yếu tố quyết định nhất trong tất cả các yếu tố quyết định nhằm đưa một đất nước, một quốc gia thoát ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu”. Vai trò của giáo dục lớn tới mức, nó có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc và giáo dục chính là trụ cột của một quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển hệ giá trị xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được , ngành giáo dục nước ta vẫn còn gặp nhiều bất cập. Trong đó nổi lên là vấn đề học sinh bỏ học hàng loạt, với xu hướng ngày càng tăng nhanh ở các địa phương. Trên phạm vi cả nước tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm nhiều trong hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 – hai năm học đầu tiên toàn ngành giáo dục thực hiện quyết liệt cuộc vận động “Hai không” và Chỉ thị 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Ở Việt Nam, năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học ở con số 4,4% và tỷ lệ này ở những người chưa tốt nghiệp phổ thông là 11,5%, tăng 2,8% so với năm trước[8]. Hơn 50% thanh thiếu niên không đi học ở lứa tuổi từ 15 đến 19 hiện nay đều đang thất nghiệp hoặc chưa có việc làm. So với lứa tuổi trưởng thành, nguy cơ từ bỏ không tiếp tục tìm kiếm việc làm và mất cơ hội tiếp cận thị trường lao động của những thanh niên bỏ học sớm cao hơn gấp 2 lần. Như vậy, được giáo dục và có kỹ năng tốt là yếu tố quan trọng để cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của mỗi con người. Tuy nhiên, số lượng học sinh bỏ học vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm và phải tích cực khắc phục.
So với cả nước Giáo dục ĐBSCL từ lâu vẫn được nhìn nhận là “vùng trũng” của cả nước. Vì sao ĐBSCL là vựa trái cây, vựa lúa lớn nhất cả nước nhưng lại bị coi là “vùng trũng” trong giáo dục cả nước? Do đặc thù của ĐBSCL đời sống kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc trình độ dân trí thấp. Cùng với hạ tầng giao thông, sự “tụt hậu, yếu kém” nguồn nhân lực của vùng ĐBSCL đã được nhận diện từ nhiều năm qua. “Mặt bằng dân trí và giáo dục hiện nay của ĐBSCL đang là một trong những “vùng trũng” của cả nước. Một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến thực trạng này đó là tình trạng HS bỏ học”[5]. Đặc biệt hơn Tây Nam bộ cũng là khu vực có tình trạng tỷ lệ học sinh bỏ học cao so với cả nước, nhiều nhất là các tỉnh: Bạc Liêu 26,2%, An Giang 25,9%, Sóc Trăng 25,8% ; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và đạt các trình độ sơ cấp, trung cấp nghề ở mức thấp nhất; đặc biệt, số trẻ em gái bỏ học nhiều hơn trẻ em trai.
Tình trạng học sinh bỏ học đã được các tỉnh, thành ĐBSCL nỗ lực giải quyết trong nhiều năm qua. Hiệu quả của nó là tỉ lệ học sinh bỏ học giảm dần. Tuy nhiên, con số do Bộ GDĐT mới công bố cho thấy vẫn còn cao so với tỉ lệ chung của cả nước. HS bậc THPT bỏ học hơn 38 ngàn em, chiếm 1,29% . Các tỉnh có tỉ lệ học sinh bỏ học cao là Cà Mau 3,95%, Kiên Giang 3,17%, Sóc Trăng 2,89%, Bạc Liêu 2,68%, Trà Vinh 2,6%…Còn số liệu công bố tại hội nghị giao ban lần thứ nhất năm học 2010 – 2011 cho thấy, năm học 2010 – 2011, tỉ lệ học sinh bỏ học ở các tỉnh ĐBSCL là 3,53% ở bậc THPT .Như vậy, tỉ lệ học sinh bỏ học ở ĐBSCL cao gấp 2 lần cả nước. Trong hội thảo chủ đề “Phát triển giáo dục ĐBSCL” được Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức mới đây tại TP Cần Thơ, nhiều đại biểu nhìn nhận tình trạng học sinh phổ thông bỏ học vẫn còn là nỗi lo của ngành giáo dục các tỉnh ĐBSCL. Tại hội thảo, một thống kê của Bộ GD-ĐT đưa ra cho thấy so với các khu vực trong cả nước, tỷ lệ bỏ học của học sinh (HS) phổ thông ở ĐBSCL chiếm tỷ lệ cao nhất. Cụ thể, tỷ lệ HS bỏ học trong học kỳ I năm học 2010-2011 cả nước là 0,43%; trong đó cao nhất ĐBSCL chiếm 0,75%, thứ nhì là Tây Nguyên 0,71%, thấp nhất là ĐB Sông Hồng 0,17% .
Trước đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã đánh giá là “ĐBSCL vẫn nằm ở vị trí thấp nhất trong bản đồ giáo dục đào tạo của cả nước”. Không thể phủ nhận những thay đổi tích cực trong GD&ĐT ở ĐBSCL thời gian qua. Tuy nhiên, dường như sự thay đổi này đã không theo kịp sự phát triển của kinh tế- xã hội. Với nền tảng giáo dục phổ thông còn nhiều bất cập dẫn đến hệ lụy: trình độ dân trí thấp, nguồn nhân lực được đào tạo không theo kịp nhu cầu xã hội. Mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với lao động ĐBSCL ở mức độ thấp so với bình quân cả nước 70,45%/ 72,81%. ĐBSCL cũng có tỷ lệ đào tạo học sinh tốt nghiệp nghề thấp, chỉ 1,76%, so với bình quân cả nước là 4,18%. Số lượng đã ít, chất lượng cũng không thật sự đảm bảo khi hầu hết doanh nghiệp ĐBSCL phải đào tạo lại khi tuyển dụng.
Như vậy, rõ ràng thực trạng HS bỏ học ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay tuy không còn trầm trọng như thời gian trước đây nhưng vẫn đang ở mức rất cao. Có một thực tế đó là cấp học càng cao thì tỷ lệ HS bỏ học cũng tăng lên tương ứng. Cần có những chuyên đề nghiên cứu sâu hơn về thực trạng giáo dục tại đồng bằng sông Cửu Long. với tỷ lệ dân số 5-18 tuổi bỏ học của các tỉnh trong vùng khá cao, tỷ lệ dân số tốt nghiệp THPT trở lên, tỷ lệ dân số được đào tạo nghề, tỷ lệ dân số có trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng trở lên thấp nhất cả nước là vấn đề đáng quan tâm, đòi hỏi Chính phủ cần có những chính sách thích hợp với vùng đồng bằng sông Cửu Long để nâng cao hiện trạng giáo dục tại vùng này. Vì vậy , giáo dục và nâng cao trình độ học vấn của người dân trong xã hội, đặc biệt là tìm giải pháp để có thể hạn chế tình trạng bỏ học ở trẻ em đang đặt ra vấn đề cấp bách trong lộ trình phát triển và hội nhập thế giới ở Việt Nam và là chủ đề nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với ngành giáo dục nói riêng, khoa học xã hội nói chung. Vấn đề này mang tính chất liên ngành, cần phải được phân tích và giải quyết từ cấp độ chính sách phát triển giáo dục đến nhận thức, vai trò của gia đình, nhà trường, cộng đồng và các tổ chức xã hội. Bỏ học của học sinh đưa đến những hậu quả nghiêm trọng cho cả cá nhân và xã hội. Đối với cấp độ cá nhân, bỏ học sớm sẽ dẫn đến mù chữ, trẻ em phải tham gia vào thị trường lao động sớm hơn. Đặc biệt đối với trẻ em gái, bỏ học nhiều khi đi liền với những biến động của cuộc đời như lấy chồng sớm, làm những công việc có nhiều rủi ro và là đối tượng của nạn buôn bán người. Thất học, khiến con người dễ rơi vào tình trạng khó khăn khi phải đương đầu với những cú sốc trong cuộc sống như thất nghiệp, sức khỏe, sức khỏe tâm thần, có nhu cầu lớn về hỗ trợ phúc lợi, tỷ lệ tội phạm và phạm pháp cao hơn do thường bị rối loạn tâm lý và trầm cảm [21].
Vậy thực trạng nhận bỏ học của học sinh hiện nay ra sao? Những nguyên nhân nào dẫn đến vấn đề bỏ học của học sinh THPT ? .Với tất cả những lí do trên tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “ Những yếu tố tác động đến thực trạng bỏ học của học sinh Trung Học Phổ Thông ở Tỉnh Bạc Liêu”( nghiên cứu trường Trung Học Phổ Thông Trần Văn Bảy và trường Trung Học Phổ Thông Võ Văn Kiệt tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu”
2. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “ Vấn đề bỏ học của học sinh Trung học phổ Thông ở Tỉnh Bạc Liêu”
2.2. Khách thể nghiên cứu
 Các em học sinh đang bỏ học ở trường THPT Trần Văn Bảy và Trường THPT Võ Văn Kiệt , tại huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu.
 Các em học sinh còn đang theo học tại trường THPT Trần Văn Bảy và Trường THPT Võ Văn Kiệt , tại huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu
 Các em học sinh đã từng bỏ học và đi học lại ở ở trường THPT Trần Văn Bảy và Trường THPT Võ Văn Kiệt , tại huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu.
 Cha mẹ có học sinh đang bỏ học và đã bỏ học tại trường THPT Trần Văn Bảy và Trường THPT Võ Văn Kiệt , tại huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu.
 Thầy Cô giáo tại hai trường THPT Trần Văn Bảy và Trường THPT Võ Văn Kiệt , tại huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu.
 Chính quyền địa phương ở huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
 Lãnh đạo Sở giáo dục Bạc Liêu.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu bối cảnh kinh tế- chính trị, văn hóa-xã hội tác động đến giáo dục trên địa bàn và những nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của học sinh tại THPT Trần Văn Bảy và trường THPT Võ Văn Kiệt trên địa bàn huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Thời gian khảo sát: Năm học 2011 đến năm 2013
Đề tài chọn học sinh, cha mẹ của học sinh đang bỏ học và đã bỏ học và các Thầy Cô giáo làm khách thể nghiên cứu. Bên cạnh đó sẽ chọn thêm những em học sinh đang đi học để so sánh đối chứng . Trong đề tài không nghiên cứu về học sinh tiểu học và THCS vì ở hai cấp học đã có một số nghiên cứu và khảo sát .
Bên cạnh đó đề tài nhấn mạnh đến những nguyên nhân tác động đến học sinh bỏ học ở nông thôn. Nguyên nhân nào là nguyên nhân chính và từ đó có những giải pháp cụ thể để khắc phục , giảm bớt tình trạng bỏ học.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng bỏ học của học sinh Trung học Phổ Thông . Từ đó đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hạn chế thực trạng bỏ học tại huyện Phước Long nói riêng và Tỉnh Bạc Liêu nói chung.
3.2 Mục tiêu cụ thể
 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng từ kinh tế xã hội và văn hóa nhằm tìm ra những mặt hạn chế là nguyên nhân bỏ học của học sinh THPT ở huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu.
 Tìm hiểu sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và địa phương trong việc khắc phục hiện tượng bỏ học và thực hiện mục tiêu giáo dục khuyến khích trẻ em đến trường.
 Đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm hạn chế việc bỏ học của học sinh.
 Xác định các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu thêm và cung cấp cơ sở trong việc định hướng xây dựng nghiên cứu toàn diện về nguyên nhân bỏ học ở trẻ em.
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu như đã nêu trên, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm trả lời cho những câu hỏi cụ thể sau:
 Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh THPT hiện nay?
 Thực trạng bỏ học của học sinh THPT hiện nay như thế nào?
 Với hiện trạng bỏ học như hiện nay thì sẽ mang lại hậu quả gì cho chính bản thân học sinh, cho gia đình và cho toàn xã hội?
 Những biện pháp nào có thể ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học?
3. Giả thuyết nghiên cứu
Đa số những học sinh nghỉ học sớm là do gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, không đủ khả năng chi trả học phí và các khoản chi phí liên quan đến học tập.
Ngoài ra thời gian tự học của học sinh còn hạn chế dẫn đến khó tiếp thu kiến thức và kéo kết quả học tập kém điều này làm cho học sinh chán nản và bỏ học.
Nhận thức của phụ huynh về giá trị của giáo dục và mức độ kiểm soát cũng được xem như là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ bỏ học của trẻ em.
Mối quan hệ giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh cũng là một trong những yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo và tỷ lệ bỏ học của học sinh.
4. Khung phân tích
Luận văn phân tích các mối quan hệ và tác động qua lại của các yếu tố xã hội đến vấn đề trẻ em bỏ học qua các khái niệm như trình độ học vấn, gia đình, giới, xã hội hóa. Các mối quan hệ chủ yếu này sẽ được thể hiện trên khung lý thuyết như sau:

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Hiện tượng xã hội học là hiện tượng phức tạp, có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và nhiều khía cạnh . Chính vì vậy cũng có nhiều lối tiếp cận để nghiên cứu xã hội. Trong khi thực hiện đề tài này kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, nhằm đảo bảo tính xác thực và đầy đủ của thông tin. Nhưng nghiên cứu định lượng đóng vai trò chính trong đề tài, nghiên cứu định tính góp phần bổ sung thêm những thông tin thu được làm rõ hơn về đối tượng của nghiên cứu định tính.
5.1.1 Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu cho ta những dữ liệu khách quan, có tính thống kê , dễ dàng kiểm chứng. Đây là nghiên cứu dựa trên các phương pháp kỹ thuật thu thập thông tin và phân tích thông tin chủ yếu dựa vào các dữ liệu , số liệu thống kê.[10]. Nghiên cứu định lượng được sử dụng trong đề tài này cho chúng ta biết mức độ tồn tại của đối tượng nghiên cứu, nó giúp ta có thể hiểu được động cơ của các hành động, thái độ của học sinh đang theo học và đã bỏ học tại hai trường THPT Trần Văn Bảy và trường THPT Võ Văn Kiệt.
6.1.2 Nghiên cứu định đính
Đây là dạng nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu về đặc tính, tính chất của đối tượng nghiên cứu, các phản ứng từ bên trong các suy nghĩ, tình cảm tạo ra các cách ứng xử khác nhau. Nghiên cứu định tính hướng đến việc xác định các khía cạnh, các nguyên nhân của thái độ, hay là phản ứng của người đó với hiện tượng, sự việc. Nghiên cứu định tính sử dụng trong đề tài để tìm hiểu sâu các phản ứng, động cơ và thái độ của học sinh đã bỏ học, đang bỏ học và của bậc phụ huynh , những người thực hiện công tác giáo dục và lãnh đạo tại địa phương.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *