Thị trường vốn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Like để cảm ơn người viết

MỞ ĐẦU

 

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp mang nặng tính hiện vật sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải hình thành và phát triển đồng bộ hệ thống thị trường, bao gồm: thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường sức lao động, thị trường vốn…

Sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế đã khởi sắc, đất nước đã căn bản ra khỏi khủng hoảng và bước vào một thời kỳ mới- thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhu cầu vốn rất lớn (chỉ tính riêng giai đoạn 1996-2000 đã cần tới 40-42 tỷ USD) và tăng nhanh theo nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bởi vậy, xây dựng và phát triển thị trường vốn ở nước ta hiện nay là nhằm đáp ứng nhu cầu đó.

Trong quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường, thị trường vốn đang trong quá trình hình thành, song còn ở mức độ sơ khai. Ngày 20.7.2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được khai trương đánh dấu bước ngoặt trong việc xây dựng thị trường vốn Việt Nam. Nhưng vừa ra đời và đi vào hoạt động thử nghiệm, trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng chậm lại mấy năm nay nên các yếu tố hình thành thị trường như hàng hóa, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, trang thiết bị kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên cho thị trường dù đã được hội đủ nhưng còn rất non kém – nhất là sự phối hợp giữa các yếu tố trên đây trong thời gian đầu vận hành còn phải tiếp tục chuẩn bị, chỉnh sửa và hoàn thiện nhiều. Do đó, xây dựng, phát triển thị trường vốn nói chung, và xây dựng, phát triển, vận hành thị trường chứng khoán nói riêng đang là yêu cầu bức bách hiện nay.

Từ những lý do trên, “Thị trường vốn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được chọn làm đề tài luận án.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, thị trường vốn đã có lịch sử hàng mấy trăm năm, đã được các nhà kinh tế nghiên cứu, tổng kết. Các khái niệm, công cụ của thị trường vốn như: chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu…, đặc biệt là các chỉ số của thị trường như chỉ số DOW JONE, NIKEI, FIHAM TIME, HANG-SINH…, đã trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.

Ở nước ta, ý niệm về xây dựng thị trường vốn được người Pháp nêu ra từ năm 1946, nhưng do điều kiện chiến tranh nên đã bị lãng quên. Ở phía Nam năm 1973 chính quyền Sài Gòn (cũ) ban hành sắc lệnh thị trường chứng khoán đầu tiên với tên: “Thị trường chứng khoán Sài Gòn”. Sau ngày đất nước thống nhất, cả nước tiến lên CNXH, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Mọi hoạt động huy động phân phối sử dụng vốn cho nền kinh tế đều thông qua hệ thống ngân hàng một cấp và hợp tác xã tín dụng dưới sự chỉ huy của Nhà nước. Vì vậy, thị trường vốn không có cơ sở để tồn tại.

Chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề thị trường vốn ở Việt Nam được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Nhiều công trình khoa học về thị trường vốn đã được công bố, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, điển hình là đề tài “Thị trường vốn – cơ chế hoạt động và sự hình thành ở Việt Nam” của Viện Khoa học Tài chính, do Giáo sư Võ Đình Hảo chủ trì (năm 1992); Luận án PTS Khoa học kinh tế của Tác giả Trần Thị Hà về “Một số nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường Tài chính ở Việt Nam“; Luận án PTS Kinh tế của Tác giả Trần Mạnh Dũng về “Sự hình thành và phát triển thị trường vốn ở Việt Nam hiện nay”… Tất cả những công trình trên là cơ sở để chúng tôi kế thừa và phát triển trong luận án này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển thị trường vốn, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản về xây dựng và phát triển thị trường vốn sao cho có thể huy động phân phối và sử dụng vốn có hiệu quả nhất phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Để thực hiện được mục đích trên luận án có nhiệm vụ:

– Phân tích những quan điểm khác nhau về thị trường vốn nhằm chắt lọc những hạt nhân khoa học, hợp lý để lựa chọn quan điểm thị trường vốn phù hợp với việc xây dựng và phát triển thị trường vốn trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

– Nghiên cứu những bài học kinh nghiệm tạo dựng và phát triển thị trường vốn ở một số nước khu vực nhằm vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.

– Khảo sát thực trạng thị trường vốn Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn, phát hiện mâu thuẫn nhằm tìm kiếm những giải pháp khắc phục có hiệu quả.

– Xác định mục tiêu, nguyên tắc và một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển thị trường vốn Việt Nam.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu thị trường vốn dưới giác độ kinh tế chính trị. Do vậy, chủ yếu làm rõ các phạm trù kinh tế liên quan đến thị trường vốn và mối quan hệ giữa chúng, từ đó rút ra những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc phân tích thực tiễn và đề xuất các giải pháp trong việc hình thành và phát triển thị trường vốn. Luận án không đi vào vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ chi tiết của thị trường vốn.

Về thời gian nghiên cứu, chủ yếu tập trung từ 1986 đến nay.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, các chính sách của Nhà nước về xây dựng phát triển thị trường vốn trong giai đoạn hiện nay. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tham khảo kinh nghiệm của một số nước về xây dựng và phát triển thị trường vốn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế, trong đó chú trọng sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê – so sánh từ đó khái quát thành những vấn đề lý luận.

6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận án

Phân tích cơ sở lý luận kết hợp với xem xét kinh nghiệm nước ngoài luận án đã khái quát những vấn đề mang tính quy luật của sự hình thành và phát triển thị trường vốn, làm rõ hơn những điều kiện tiền đề cơ bản cho sự hình thành và phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Xây dựng mục tiêu, nguyên tắc cho sự phát triển thị trường vốn Việt Nam và làm rõ thêm những giải pháp chủ yếu trong quá trình xây dựng, phát triển thị trường vốn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ nay đến năm 2020.

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế, các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý kinh tế, tài chính, tiền tệ ở nước ta.

7. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết.


Chương 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1.1.1. Khái niệm vốn và thị trường vốn

1.1.1.1. Khái niệm về vốn

Đối với tất cả các quốc gia, vốn là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trên bình diện vĩ mô, tất cả các chiến lược, các chương trình phát triển kinh tế xã hội xóa đói giảm nghèo, chương trình 135 (chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo), chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc… đều cần đến vốn. Đối với các doanh nghiệp vốn không chỉ cần cho việc mua sắm máy móc thiết bị, thuê mặt bằng, nhà xưởng, nhân công… mà còn cần cho lưu chuyển và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), việc thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa, mức độ áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và đời sống diễn ra nhanh chóng, thì nhu cầu vốn càng trở nên bức thiết. Do vậy, vốn càng có vai trò đặc biệt quan trọng và tậpt trung vốn, tích lũy vốn trở thành chìa khóa cho sự thành công của CHN, HĐH nói riêng và của tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung.

Trong lịch sử kinh tế đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau, do đó cũng có nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Dưới đây là một số quan niệm cơ bản.

Trong bộ “Tư bản”, C.Mác đã khái quát hóa phạm trù vốn qua phạm trù tư bản. Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản C.Mác kết luận: “Như vậy là giá trị ứng ra lúc ban đầu không những được bảo toàn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy đã biến giá trị đó thành tư bản” [46, tr. 228].

 Kết luận này đã bao hàm đầy đủ tính chất và chức năng của vốn: là tư bản (vốn), thì phải luôn ở trạng thái vận động (được ném vào quá trình sản xuất và lưu thông) trong quá trình vận động này tư bản (vốn) phải được lớn lên, được sinh sôi nẩy nở (chức năng sinh lời).

Các tác giả của cuốn “Từ điển kinh tế thị trường” cho rằng: vốn, tư bản (capital) là “những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được tái tạo ra” [3, tr. 56].

Còn cuốn “Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ” do các tác giả Hồ Văn Kim Mộc và Điêu Quốc Tín biên soạn cho rằng: vốn là “tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức” [51, tr. 29].

Ở Việt Nam, cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ viết: vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc ban đầu thường biểu hiện bằng tiền dùng trong sản xuất kinh doanh, nói chung trong hoạt động sinh lợi” [65, tr. 1164].

Khảo cứu các khái niệm trên đây cho thấy: về hình thức văn phong, về xác định các hình thái của vốn trong các quan niệm còn có những điểm khác nhau, nhưng tất cả các quan niệm đều có điểm chung là: Thứ nhất, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là tiền, là các loại tài sản (được giá trị hóa)… Thứ hai, đã là vốn thì phải gắn với sự vận động (gắn với quá trình sản xuất), đặc biệt đã là vốn thì phải sinh lời. Đây chính là các đặc trưng cơ bản của vốn.

Từ sự phân tích trên đây, theo chúng tôi có thể hiểu, vốn là hình thái giá trị của các yếu tố sản xuất tham gia hoặc sẵn sàng tham gia vào quá trình tái sản xuất nhằm mục tiêu sinh lời của một đơn vị kinh tế hay quốc gia. Nó bao gồm tài sản tài chính, tài sản hữu hình, tài sản vô hình.

Để hiểu đúng bản chất của vốn, cần phải lưu ý một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, vốn là hình thái giá trị được biểu hiện bằng tiền. Nghĩa là, vốn phải đại diện cho một lượng giá trị hàng hóa, dịch vụ, tài sản nhất định. Cho nên vốn không chỉ tồn tại dưới hình thức giá trị độc lập – tiền tệ mà còn tồn tại trong các tài sản hữu hình, và vô hình. Nó là kết tinh của giá trị, được biểu hiện bằng tiền nhưng không phải là đồng tiền in ra không có một loại giá trị nào bảo đảm. Quan điểm này rất quan trọng, nó đã từng đánh bại quan điểm cho rằng: Việc in tiền cho đầu tư là phát hành lành mạnh. Thực ra, bất kỳ một sự phát hành thêm tiền nào mà không có giá trị hàng hóa, dịch vụ bảo đảm đều mang lại hậu quả như nhau đó là lạm phát.

Thứ hai, vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn. Tiền chỉ biến thành vốn khi nó được sử dụng vào mục đích đầu tư hoặc kinh doanh. Tiền tiêu dùng hàng ngày, tiền dự trữ không được coi là vốn. Đó là những khoản tiền chi tiêu, tiền để dành là các khoản chi không có khả năng sinh lời, không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Chỉ những đồng tiền in ra được bảo đảm bằng tài sản thật, được đưa vào kinh doanh với mục tiêu sinh lời mới là vốn.

Trong nền kinh tế, việc sử dụng tiền trong đầu tư kinh doanh chính là quá trình vận động của vốn. Trong quá trình vận động tiền ra đi rồi quay trở về điểm xuất phát ban đầu với một lượng lớn hơn bản thân nó. Thực tế sản xuất kinh doanh nó có thể vận động dưới ba hình thức.

Một là, T – T’. Đây là hình thức vận động vốn của các tổ chức tài chính trung gian.

Hai là, T – H – T’. Đây là hình thức vận động của vốn ở các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ.

Ba là, T – H – SX – H’ – T’. Đây là hình thức vận động của vốn ở các doanh nghiệp sản xuất.

Trong đó:

SX: quá trình sản xuất kinh doanh.

H: tư liệu sản xuất, sức lao động…, những hàng hóa vô hình.

T: lượng tiền ban đầu đưa vào đầu tư kinh doanh.

H’: hàng hóa thu được sau quá trình sản xuất kinh doanh.

T’: lượng tiền thu được sau quá trình sản xuất kinh doanh. Chú ý T’>T và T’ = T+Dt.

Dt là lượng giá trị tăng thêm sau quá trình đầu tư kinh doanh.

Thứ ba, trong KTTT vốn cũng là một hàng hóa, nó trở thành hàng hóa với điều kiện: vốn được xuất ra cho vay trong một thời gian nhất định và sẽ quay trở về tay người chủ sở hữu khi đến thời gian đáo hạn; và khi quay trở về vốn sẽ đem theo một lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn này được gọi là lợi tức. Đề cập đến vấn đề này C.Mác viết:

Tiền chỉ được đem nhượng lại với hai điều kiện, một là, nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là, nó sẽ quay trở về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được các giá trị sử dụng của nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [47, tr. 525].

Tính chất đặc biệt của hàng hóa vốn thể hiện khi tiêu dùng nó không những vẫn giữ được giá trị và giá trị sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị và giá trị sử dụng đó tăng lên. Mác viết:

Đối với các hàng hóa khác, cuối cùng giá trị sử dụng của chúng đều do người mua tiêu dùng đi, đồng thời thực thể của hàng hóa và giá trị của nó đều cũng biến mất theo. Trái lại, hàng hóa tư bản có các đặc tính là: khi giá trị sử dụng của nó được được đem tiêu dùng đi, hàng hóa – tư bản không những vẫn giữ được giá trị và giá trị sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị và giá trị sử dụng đó tăng thêm lên nữa [47, tr. 537].

Có được điều này là do người sở hữu vốn chỉ bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, giá cả của vốn được gọi là lợi tức. Chính nhờ sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã làm cho vốn có thể được lưu thông trong kinh doanh và sinh lời.

Thứ tư, vốn được thể hiện bằng tiềm năng và lợi thế vô hình. Điều này trước đây ít được chú ý, nhưng trong thực tế, vai trò của nó lại rất lớn. Ngày nay người ta đang tìm cách “giá trị hóa” chúng. Tiềm năng và lợi thế vô hình của một xí nghiệp, một quốc gia rất đa dạng như: vị trí địa lý, bản quyền sáng chế, uy tín trên thị trường, tri thức của người lao động… Khái niệm chung để chỉ nguồn vốn này đối với một xí nghiệp là “Good Will” (giá trị tài sản vô hình của công ty).

Trong nghiên cứu và trong thực tiễn quản lý kinh tế cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, tùy theo mục đích nghiên cứu và quản lý, người ta thường căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, để phân chia vốn thành những bộ phận khác nhau nhằm đạt được mục đích nghiên cứu hay tìm ra những biện pháp huy động quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả hơn.

– Trong bộ “Tư bản”, C. Mác dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại tư bản (vốn), cách phân loại này có ý nghĩa lớn trong quản lý và sử dụng vốn. Một là, căn cứ vào khả năng thay đổi giá trị của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất. Bộ phận tư bản không thay đổi đại lượng giá trị của nó trong suốt quá trình sản xuất mà chuyển toàn bộ giá trị của nó vào sản phẩm trong quá trình sản xuất được C. Mác gọi là tư bản bất biến (constantis), đó là bộ phận tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu. Bộ phận tư bản biến thành sức lao động thì lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất, nó không chỉ bảo toàn được giá trị của nó mà còn tạo ra một giá trị lớn hơn chính bản thân nó – được C. Mác gọi là tư bản khả biến (Variantis). Từ kết quả nghiên cứu này C. Mác đã phát hiện ra nguồn gốc giá trị thặng dư – một trong những mấu chốt căn bản của phát kiến lớn của C. Mác – học thuyết giá trị thặng dư. Dưới giác độ vốn, ta có thể thấy nguồn gốc sinh lời của vốn chính là từ bộ phận tư bản khả biến. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò kết hợp của bộ phận tư bản bất biến trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hai là, căn cứ vào tính chất chu chuyển của tư bản và phương thức chuyển dịch giá trị của các bộ phận tư bản sang sản phẩm mới, C. Mác chia thành: tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư bản cố định bao gồm những yếu tố của tư bản sản xuất tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng chuyển từng phần giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ hao mòn của nó – đó là số vốn ứng trước để mua máy móc thiết bị nhà xưởng… Tư bản lưu động bao gồm những yếu tố của tư bản sản xuất được chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm mới trong quá trình sản xuất, về hình thức vật thể tư bản lưu động là nguyên nhiên vật liệu và cả bộ phận ứng trước để trả tiền công lao động.

– Căn cứ vào hình thức tồn tại, vốn được chia thành các nguồn: vốn tiền tệ và các tài sản. Trong các tài sản được chia ra tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

– Căn cứ vào chủ sở hữu nguồn vốn vốn được chia ra: vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn vay. Cách phân chia này có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu thị trường vốn (TTV) – nó là cơ sở hình thành TTV. Quỹ sản xuất của các doanh nghiệp cũng như quỹ tiêu dùng của các hộ gia đình, quỹ quốc gia thường xuyên nằm trong tình trạng lúc thì tạm thời thừa dư do chưa sử dụng đến, lúc thì thiếu do chưa đủ chi. Từ đó nảy sinh nhu cầu cho vay và đi vay về vốn. Sự gặp gỡ giữa cung và cầu về vốn hình thành nên TTV.

– Căn cứ vào thời gian cho vay của người chủ sở hữu và thời gian trả nợ của người sản xuất kinh doanh, vốn được chia ra: vốn dài hạn, vốn trung hạn và vốn ngắn hạn.

– Căn cứ vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế và “bản sao” (giấy chứng nhận chủ sở hữu nguồn vốn đầu tư – chứng khoán) vốn được chia ra vốn thực và vốn ảo hay tư bản thật và tư bản giả.

– Căn cứ vào lãnh thổ quốc gia, vốn được chia ra vốn trong nước và vốn nước ngoài.

1.1.1.2. Khái niệm thị trường vốn

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế – xã hội đều được thực hiện thông qua thị trường, và do đó, hình thành nên hệ thống thị trường trong đó có TTV. Thị trường đã có lịch sử hàng trăm năm, nhưng cho đến nay người ta vẫn có những quan niệm khác nhau và cách phân loại khác nhau về thị trường tùy theo từng trường phái, từng quốc gia, thậm chí từng học giả. Có tình hình này là do mỗi trường phái, mỗi tác giả xuất phát từ những phương pháp tiếp cận khác nhau để đạt mục đích khác nhau, lựa chọn những tiêu chí khác nhau căn cứ vào những đặc trưng đặc điểm khác nhau và do tính đặc thù trong quá trình phát triển kinh tế thị trường (KTTT) ở từng nước.

Trong bối cảnh đó, việc phân loại thị trường vốn cũng có những quan điểm khác nhau. Hiện tại nổi lên hai trường phái chủ yếu.

– Trường phái thứ nhất, theo tài liệu của Pháp và một số nước khác cho rằng: thị trường vốn là thị trường giao dịch cả các nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn. Căn cứ vào phương thức chuyển dịch vốn theo thuộc tính thời gian và hình thức vận động, thị trường vốn được phân biệt thành thị trường tiền tệ và thị trường tài chính. Có thể mô hình hóa theo sơ đồ 1.1.

Sơ đồ 1.1: Mô hình TTV theo tài liệu của Pháp

Quan điểm này có ưu điểm là, nội dung khái niệm bao quát hết các loại vốn. Vốn ngắn hạn hay dài hạn thì cũng đều là vốn, và khi đồng vốn được mua bán thông qua quan hệ cung – cầu thì đều là thị trường vốn. Tuy nhiên khi đi vào phân biệt (phân loại) các bộ phận của TTV thì, quan điểm này chưa đủ căn cứ. Vì tài chính là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều khâu và nhiều lĩnh vực hoạt động, do đó thị trường tài chính cũng là khái niệm rộng để chỉ tất cả các hoạt dộng giao dịch các nguồn vốn tài chính – kể cả nguồn tài chính ngắn hạn và dài hạn.

– Trường phái thứ hai, theo quan điểm của Mỹ, Anh, Đức và một số nước khác. Trường phái này tiếp cận thị trường vốn từ hệ thống thị trường. Theo họ, hệ thống thị trường bao gồm thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường sức lao động và thị trường tài chính. Thị trường tài chính được định nghĩa là “thị trường trong đó vốn được chuyển từ những người hiện có vốn dư thừa sang những người thiếu vốn” [49, tr. 35].

 Về cấu trúc của thị trường tài chính, thì có nhiều phân loại khác nhau, mỗi cách minh họa các đặc điểm cốt lõi của thị trường này. Cách phân loại quan trọng và có ý nghĩa nhất trong nghiên cứu TTV là việc phân chia thị trường tài chính thành thị trường tiền tệ và TTV. Việc phân chia này dựa vào nhiều căn cứ khác nhau, nhưng chung qui lại có hai căn cứ chủ yếu sau:

Một là, căn cứ vào thời gian sử dụng vốn vay của người đi vay và thời gian cho vay của người tích lũy. Theo tiêu chuẩn này,người ta phân biệt hai loại vốn: vốn ngắn hạn và vốn dài hạn. Các nguồn vốn ngắn hạn vận động không tập trung, chủ yếu là các phương tiện thanh toán và được qui thành đối tượng của thị trường tiền tệ. Các nguồn vốn dài hạn vận động tập trung thành các kênh lớn và có khối lượng lớn, để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và được tụ lại trên các điểm giao dịch lớn, được coi là đối tượng của thị trường vốn.

Hai là, căn cứ vào hình thức vận động của các nguồn tài chính, dựa vào các hình thức vận động này,người ta phân ra thành hai loại: vận động gián tiếp và vận động trực tiếp. Tương ứng với hai hình thức vận động nói trên của các nguồn vốn là hai dạng thị trường: thị trường tiền tệ (chuyên môn hóa các công cụ tài chính gián tiếp) và thị trường vốn (chuyên môn hóa các công cụ tài chính trực tiếp).

+ Thị trường tiền tệ, là thị trường có thời hạn một năm, lấy phương tiện tài chính, tín dụng ngắn hạn làm đối tượng mua bán, như các chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, các kỳ phiếu thương mại, các khế ước giao hàng, các tín phiếu kho bạc ngắn hạn… Đặc điểm nổi bật của các công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ là có khả năng thanh toán cao và ít rủi ro, đặc biệt đối với những người cần một khoản tiền mặt thì họ có thể dễ dàng bán các loại phiếu ghi nợ ngắn hạn hơn là bán các loại phiếu ghi nợ dài hạn và chịu mất mát ít. Hơn nữa, các chứng khoán ngắn hạn ít rủi ro, vì thời gian hoàn vốn ngắn, và người chủ nợ có thể tính toán được ngay giá cả và lãi suất của nó bằng các phép tính đơn giản. Giá cả của các phiếu ghi nợ này cũng rất linh hoạt theo qui luật cung- cầu. Vì các lý do trên mà các thể nhân và pháp nhân hay mua các loại phiếu ghi nợ ngắn hạn hơn là các chứng khoán dài hạn.

Đối tượng tham gia thị trường tiền tệ là các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện chức năng vay để cho vay với lãi suất cao hơn.

Có thể phân biệt hai nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường tiền tệ, Một là, nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ), hoặc của các TCTD có số dư tạm thời về khả năng chi trả đối với các TCTD đang gặp khó khăn về nguồn vốn huy động. Hai là, nghiệp vụ mua, bán các chứng khoán ngắn hạn.

Thị trường tiền tệ gồm có thị trường tín dụng liên hàng, thị trường đổi tiền mặt, thị trường nội hối liên hàng và thị trường tín phiếu kho bạc.

+ Thị trường vốn, là thị trường mua, bán các chứng khoán và các giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn.

Đặc điểm nổi bật của thị trường vốn (hay thị trường tư bản) là thời hạn dài, đầu tư vốn mang tính chất sản xuất kinh doanh. Quan điểm này có thể mô hình hóa qua sơ đồ 1.2.

Sơ đồ 1.2: Mô hình TTV theo quan niệm các nước Anh, Mỹ

Quan điểm này có ưu điểm nổi bật là, nghiên cứu TTV trong nền kinh tế thị trường mà tiếp cận từ giác độ hệ thống thị trường là hợp lý, cách phân chia này đơn giản, dễ hiểu. Song cách phân chia này cũng có nhược điểm là chưa bao quát được hết các nguồn vốn được trao đổi mua bán trên thị trường (vốn ngắn hạn).

Qua sự phân tích ưu và nhược điểm của hai quan điểm cơ bản trên đây, chúng tôi thấy: sở dĩ còn có quan niệm và cách phân loại khác nhau về các loại thị trường là do: thứ nhất, các tác giả xuất phát từ giới hạn nội hàm của các khái niệm (tiền tệ, tài chính, tư bản…) mà đưa ra các định nghĩa theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau; thứ hai, xuất phát từ thói quen truyền thống và quá trình phát triển KTTT ở từng nước. Vì những lý do đó mà ở ngay các nước có nền KTTT phát triển cao từ hàng trăm năm nay vẫn tồn tại những quan niệm khác nhau về phân loại các thị trường nói chung và các TTV, tài chính, tiền tệ nói riêng. ở Việt Nam hiện nay, các tác giả nghiên cứu vấn đề này đã xuất phát từ những tài liệu và tư liệu ở nhiều nước khác nhau, do đó cũng đưa ra những quan niệm và cách thức khác nhau về phân loại thị trường là điều dễ hiểu. Việc lựa chọn quan điểm nào, phụ thuộc rất nhiều vào mục đích, phạm vi nghiên cứu và hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển TTV.

Theo chúng tôi, trong chiến lược xây dựng và phát triển thị trường vốn phục vụ quá trình CNH, HĐH nên thiên về vận dụng quan điểm của trường phái thứ hai và quan niệm thị trường vốn là thị trường mua bán, chuyển nhượng các nguồn vốn trung, dài hạn dưới hình thức các khoản vay, các chứng khoán và các giấy ghi nợ trung và dài hạn khác. Như vậy, ở đây thị trường vốn được hiểu theo nghĩa hẹp- chỉ bao gồm các nguồn vốn trung, dài hạn, và nó bao gồm hai bộ phận. Thị trường tín dụng dài hạn (TTTDDH) và thị trường chứng khoán (TTCK). Chấp nhận quan điểm này là dựa trên các cơ sở sau đây:

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, việc phân định ra các bộ phận của thị trường tài chính, và sau đó là các bộ phận của thị trường vốn theo quan niệm trên đây chỉ là biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu từng loại thị trường như một khái niệm kinh tế tồn tại độc lập và ly khai ra khỏi các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nó. Đây là một phương pháp khoa học thường được áp dụng khi nghiên cứu các vấn đề kinh tế- xã hội chứ không hoàn toàn có ý muốn tuyệt đối hóa mặt này, mặt khác (chỉ có vốn dài hạn mới là vốn, còn vốn ngắn hạn không phải là vốn) như một số tác giả đã phê phán. Trên thực tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực chuyên môn hóa của thị trường tiền tệ và đâu là khu vực chuyên môn hóa của thị trường vốn. Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ khăng khít với nhau, các biến đổi về giá cả (lãi suất) trên thị trường tiền tệ diễn ra thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn. Ngược lại, các thay đổi (về chỉ số chứng khoán hay giá cả cổ phiếu) của thị trường vốn cũng phản ánh các hiện tượng tốt hay xấu đã và đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Các chính sách của Nhà nước như, chính sách lãi suất, tiền tệ với mục đích phát triển thị trường tiền tệ đồng thời cũng là các yếu tố ngăn cản phạm vi hoạt động của TTV. Xuất phát từ đòi hỏi của thực tế, trong tương lai sẽ không tồn tại một thị trường tiền tệ thuần túy cũng như không thể có một TTV thuần túy, mà sẽ tồn tại một thị trường tài chính (vốn)- tiền tệ hỗn hợp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường có điều tiết.

Hai là, mục tiêu của luận án là nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xây dựng thị trường vốn nhằm bảo đảm tốt cho quá trình huy động, phân phối, sử dụng vốn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng. Nói đến vốn cho tăng trưởng và phát triển bền vững trước hết và xuyên suốt trọng tâm của vấn đề là vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (vốn trung dài hạn) chứ không phải là vốn thanh toán (vốn ngắn hạn). Mặt khác trong quản lý vốn thì vốn dài hạn (vốn cố định) là cơ sở, là căn cứ để cân đối vốn ngắn hạn (vốn lưu động) chứ không phải là ngược lại lấy vốn lưu động làm căn cứ để xác định, cân đối vốn cố định.

Thực tế bài học của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á vừa qua cho thấy: trong các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng có một nguyên nhân quan trọng là mất cân đối giữa các nguồn vốn, đa số các nước chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng đều chuyển một số lớn vốn vay ngắn hạn sang đầu tư dài hạn (vào các ngành có thời gian thu hồi vốn chậm như xây dựng địa ốc, khách sạn…). Như vậy, xây dựng thị trường vốn mà chú trọng đến vốn dài hạn là đã nắm được cái gốc của vấn đề chiến lược vốn.

Ba là, thực tiễn huy động, phân phối, sử dụng vốn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, trong khi các NHTM thừa vốn không cho vay được thì các doanh nghiệp lại hết sức “đói vốn”. Đi sâu hơn vào tình hình trên thì thấy rằng, các doanh nghiệp cần vốn trung, dài hạn cho đầu tư, trong khi đó các ngân hàng lại chỉ huy động được vốn ngắn hạn. Điều này đặt ra vấn đề là các ngân hàng phải thay đổi cơ cấu huy động vốn, chuyển từ huy động vốn ngắn hạn sang huy động vốn dài hạn và Nhà nước phải có chính sách khuyến khích huy động vốn trung, dài hạn cho đầu tư phát triển.

Thứ tư, TTV là một kênh dẫn vốn có cấu trúc phức tạp, khi phát triển đến một mức độ nào đó thì nó mang tính chất quốc tế rất cao. Vì vậy, xây dựng TTV phải tính đến yếu tố dễ hòa nhập quốc tế khi có điều kiện. Trên thế giới, đa số các nước, đặc biệt là những trung tâm tài chính quốc tế đều có mô hình TTV được xây dựng trên quan niệm này. Hơn nữa, hiện nay đa số sách giáo khoa về lĩnh vực tài chính ngân hàng, kể cả sách dịch của nước ngoài và sách do các học giả trong nước biên soạn đang được giảng dạy ở cá trường Đại học chuyên ngành đều theo quan điểm này. Điều đó rất thuận lợi trong việc đào tạo, tuyên truyền giáo dục về lĩnh vực kinh tế vô cùng quan trọng nhưng cũng hết sức mới mẻ này ở nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển TTV.

Qua khái niệm và những phân tích nhấn mạnh trên đây có thể nói, thực chất TTV là nơi tập trung các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế (trong điều kiện CNH,HĐH thì tập trung các nguồn vốn phục vụ CNH, HĐH) hay “là quá trình chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh” [25, tr. 15].

Các bộ phận cấu thành của thị trường vốn

Căn cứ vào quan hệ giữa các đối tượng, có thể phân biệt thị trường vốn thành hai bộ phận (hai công cụ hoặc “hai chân” của thị trường vốn). Thị trường tín dụng dài hạn, thông qua các nghiệp vụ vay để cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng và thị trường chứng khoán (TTCK).

Thị trường tín dụng dài hạn ra đời từ nhiều thế kỷ và ngày nay đã đạt tới một trình độ công nghệ rất cao. Ở tất cả các nước hệ thống NHTM phát triển không ngừng và đảm nhận khoảng 60% – 70% nhu cầu giao lưu vốn của nền kinh tế [49, tr. 204].

Chủ thể hoạt động trên thị trường tín dụng là các TCTD. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực từ 1-10-1998, các TCTD bao gồm: Các TCTD là ngân hàng (theo tính chất và mục tiêu hoạt động được chia thành: Các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác…) và các TCTD phi ngân hàng (gồm các Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính…). Ngoài ra hoạt động trên thị trường này còn có các công cụ tài chính như các quỹ tài chính Nhà nước, quỹ của các tổ chức kinh tế xã hội… Các TCTD hoạt động trên cơ sở huy động vốn với lãi suất thấp và cho vay với lãi suất cao hơn.

Mặc dù là loại hình huy động vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng áp đảo trong việc cung cấp các nguồn vốn từ bên ngoài cho những doanh nghiệp phi tài chính, nhưng thị trường tín dụng cũng có những hạn chế nhất định. Nó không chỉ tách rời người có vốn và người cần vốn mà còn mang tính chất độc quyền trong quan hệ như trong việc qui định lãi suất, điều kiện cho vay, khối lượng vốn vay… Do đó, đã ra đời một loại hình huy động vốn bổ sung khắc phục những hạn chế này là TTCK.

Thị trường chứng khoán, là thị trường mua bán các chứng khoán trung và dài hạn.

TTCK là bước phát triển cao và hoàn chỉnh của thị trường vốn, nó cho phép phát huy những lợi thế của thị trường tín dụng, đồng thời khắc phục những hạn chế của thị trường này. Tuy nhiên, TTCK cũng không phải là một loại thị trường huy động vốn hoàn hảo, nó cũng có những mặt tiêu cực của nó như đầu cơ, mua bán nội gián… làm tổn hại đến lợi ích người đầu tư.

Về phân loại TTCK, có hai cách có ý nghĩa quan trọng.

Một là, căn cứ vào các bộ phận cấu thành TTCK, về lý thuyết TTCK gồm ba bộ phận: TTCK Nhà nước, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu. Tuy nhiên, trong thực tế ở mỗi nước, cơ cấu thị trường chứng khoán có những điểm khác nhau. Ví dụ, ở Malyaxia có TTCK Nhà nước, nhưng ở Pháp, Anh, Mỹ thì lại không có, mà chủ yếu là hai thị trường trái phiếu và cổ phiếu.

Thị trường chứng khoán Nhà nước, là thị trường mua và bán các chứng khoán Nhà nước (các giấy ghi nợ của Nhà nước như phiếu công trái, tín phiếu kho bạc Nhà nước dài hạn và các chứng chỉ đầu tư). TTCK Nhà nước hoạt động tương đối ổn định và có tỷ trọng khá cao. Vì, các chứng khoán Nhà nước có lãi suất cố định, ngân sách chính phủ luôn luôn bội chi và do đó nhà nước vay nợ của dân ngày càng nhiều và với khối lượng lớn. Do đó, thị trường này được coi là chỉ dẫn mức nợ trong nước của Chính phủ.

Thị trường trái phiếu, là thị trường mua bán các trái phiếu (các chứng khoán có lãi suất cố định). Đây là thị trường gặp ít rủi ro, mạo hiểm hơn, vì các chứng khoán giao dịch có lãi suất cố định và có thời hạn hoàn vốn được ấn định trước. Trường hợp công ty bị phá sản thì trái phiếu cũng là một món nợ mà công ty cần phải ưu tiên thanh toán trước.

Thị trường cổ phiếu, là thị trường mua bán các cổ phiếu. Đây là thị trường có dung lượng cao nhất và là hạt nhân cơ bản của thị trường chứng khoán. Thị trường cổ phiếu gặp nhiều rủi ro và mạo hiểm, cho nên qui mô và phạm vi hoạt động của nó cũng luôn luôn thay đổi. Thị trường này rất nhạy cảm với những biến động về kinh tế như: lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng, chiến tranh… Lý do cơ bản nhất để giải thích ở đây là, vì lãi suất cổ phiếu phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của các con nợ (người đi vay). Thị trường cổ phiếu thường có doanh số cao nhất so với các thị trường khác. Vì vậy, thị trường này là bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán. Nói đến thị trường chứng khoán phát triển, tức là nói đến thị trường cổ phiếu phát triển, hoặc xây dựng thị trường chứng khoán, xét cho cùng là xây dựng và thiết lập thị trường cổ phiếu.

Hai là, căn cứ vào tầng cấp giao dịch, người ta chia ra thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp.

Thị trường chứng khoán sơ cấp, là thị trường mua, bán các cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm qui mô vốn đầu tư.

Thị trường chứng khoán thứ cấp, là nơi diễn ra hoạt động mua bán các cổ phiếu, trái phiếu… đến tay người thứ hai mà không làm tăng thêm qui mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được các nguồn tài chính mới. Thị trường thứ cấp nếu được tổ chức thì gọi là sở giao dịch chứng khoán (SGDCK).

Việc phân định hai cấp thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó cho phép xác định được lượng vốn tăng thêm bổ sung cho nền kinh tế (trên thị trường sơ cấp) và lượng vốn luân chuyển (trên thị trường thứ cấp), từ đó có chính sách điều chỉnh thích hợp.

1.1.2. Cung, cầu và giá cả trên thị trường vốn

Cũng như các thị trường khác, hoạt động của TTV tuân theo các quy luật chung của hệ thống thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật tâm lý xã hội… Hàng hóa mua bán trên thị trường này là một hàng hóa đặc biệt- tiền vốn (tư bản), vì vậy giá cả trên TTV không phải toàn bộ giá trị của vốn mà chỉ bao gồm tiền thuê quyền sử dụng vốn (lãi suất) do hai bên thỏa thuận. Là một thị trường trao đổi mua bán hàng hóa đặc biệt nên các chủ thể tham gia thị trường này cũng rất đa dạng phong phú.

1.1.2.1. Các chủ thể cung, cầu về vốn

Hoạt động trên TTV có nhiều chủ thể khác nhau, hoặc là chỉ bán (cung về vốn), hoặc là chỉ mua (cầu về vốn), hoặc là vừa mua vừa bán, hoặc chỉ làm trung gian môi giới cho hai bên mua bán để hưởng hoa hồng môi giới, chủ thể của TTV bao gồm:

 – Nhà nước, tham gia vào TTV với hai tư cách khác nhau, Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý hoạt động của TTV, ban hành các đạo luật và qui định có liên quan đảm bảo cho thị trường hoạt động công bằng, công khai, trật tự và đảm bảo quyền lợi của người đầu tư. Hai là, Nhà nước tham gia TTV với tư cách như một doanh nghiệp bình thường. Nhà nước tạo hàng hóa cho TTCK khi chính phủ trung ương và chính quyền đại phương phát hành trái phiếu để vay nợ dân và các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước ở thị trường sơ cấp phục vụ cho mục đích của Nhà nước.

Tại thị trường thứ cấp, Nhà nước đóng vai trò là người mua, bán chứng khoán của các doanh nghiệp trong các trường hợp sau:

+ Nhà nước (Bộ Tài chính) muốn tham gia quản lý các doanh nghiệp thuộc một ngành quan trọng nào đó, có tính chất then chốt đối với nền kinh tế quốc dân (như điện, hàng không…) Nhà nước sẽ mua chứng khoán của các doanh nghiệp này và tùy theo mức độ cần tham gia quản lý để mua với tỷ lệ cao hay thấp trong tổng số chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành ra hoặc ngược lại, khi không muốn quản lý hoặc giảm mức độ quản lý đối với doanh nghiệp nào đó, Nhà nước có thể bán chứng khoán của các doanh nghiệp đó ra trên TTV thứ cấp.

+ Nhà nước (NHNN) có thể thực hiện điều hành lưu thông tiền tệ thông qua sự can thiệp trên thị trường mở. Ví dụ, NHNN muốn mở rộng tiền tệ (“bơm” tiền vào lưu thông) nhằm kích thích phát triển kinh tế, NHNN sẽ mua chứng khoán với số lượng lớn và ngược lại khi nền kinh tế phát triển quá nóng, NHNN theo đuổi chính sách thu hẹp tiền tệ (“hút” tiền ra khỏi lưu thông) sẽ bán chứng khoán ra thị trường.

Ngày nay, Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trên TTV, đặc biệt là việc tổ chức, quản lý, điều tiết thị trường. Ở những nước xây dựng TTV từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trở lại đây thì Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và định hướng trong sự hình thành, phát triển TTV.

– Các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp tham gia TTV với tư cách là người tạo hàng hóa (cung) tại TTCK sơ cấp và với tư cách là người mua bán chứng khoán tại TTCK thứ cấp và thực hiện các khoản vay tại thị trường tín dụng.

Trong nền KTTT, có ba hình thức tổ chức doanh nghiệp cơ bản, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (CTCP). Ở các nước XHCN chuyển sang kinh tế thị trường có thêm hai loại hình doanh nghiệp nữa là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hợp tác xã. Các loại hình doanh nghiệp trên đều tham gia TTV với tư cách là các chủ thể cung trên TTV khi các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu (các CTCP) hay phát hành trái phiếu để bổ sung vốn sản xuất kinh doanh (các CTCP và các doanh nghiệp khác). Các doanh nghiệp tham gia TTV với tư cách là chủ thể cầu về vốn, khi họ thực hiện các khoản vay từ các TCTD và khi họ bán các chứng khoán trên TTCK thứ cấp. Trong các hình thức tổ chức doanh nghiệp đã nêu trên, CTCP là chủ thể quan trọng nhất hoạt đọng trên TTCK, nó tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn qua việc phát hành cổ phiếu để bán lần đầu trên thị trường sơ cấp, để tạo vốn cho một CTCP mới thành lập, hoặc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để tăng vốn bổ sung cho quá trình sản xuất kinh doanh của các CTCP đang hoạt động.

Tóm lại, các doanh nghiệp tham gia TTV với tư cách là chủ thể cung cầu về vốn, với mục đích hoặc là tạo vốn,hoặc là tăng vốn cho sản xuất kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận.

– Các cá nhân và hộ gia đình

Đây là chủ thể tham gia TTV với tư cách là người cung về vốn quan trọng nhất. Họ là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư số tiền để dành của mình vào việc mua các chứng khoán hay gửi tại các ngân hàng để được hưởng lợi tức hàng năm. Trên TTCK, họ cũng là những người mua bán lại các chứng khoán của mình để rút vốn ra trước thời hạn hoặc để nhận được khoản chênh lệch giá. Các cá nhân và hộ gia đình tham gia TTV bằng hai cách, trực tiếp hoặc gián tiếp qua các quĩ tương hỗ hay quĩ đầu tư…

– Các tổ chức tài chính trung gian

 Là những loại hình doanh nghiệp kinh doanh tín dụng. Trong thực tế, các tổ chức tài chính trung gian được hình thành ở nhiều dạng khác nhau, chúng có tác dụng là cầu nối giữa những người cho vay và những người đi vay, là cơ chế sáng tạo thu hút vốn đầu tư có hiệu quả nhất, đáp ứng được cả nhu cầu của người vay và người cho vay, đảm bảo được lợi ích vật chất của bản thân mỗi tổ chức.

Căn cứ vào phương thức hoạt động, các tổ chức tài chính trung gian có thể được phân thành: các TCTD, bao gồm các NHTM, các công ty tài chính, các hợp tác xã tín dụng…, và các tổ chức tài chính khác, như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quĩ tương hỗ…

+ Các NHTM

Trong số các tổ chức tài chính trung gian các NHTM chiếm vị trí quan trọng nhất cả về vị trí, qui mô và thành phần nghiệp vụ. Hoạt động của NHTM bao gồm bốn nghiệp vụ chính: Nhận tiền gửi, cho vay, tiền mặt, thanh toán.

Nhận tiền gửi và cho vay là hai nghiệp vụ quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất của các NHTM. Hai nghiệp vụ này tạo cho các NHTM trở thành trung gian tài chính lớn nhất trên TTTD. Từ những năm 1970 trở lại đây các NHTM luôn chiếm khoảng trên 60% tổng số vốn được tài trợ từ bên ngoài các doanh nghiệp ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển cao [49, tr. 202].

Việc thực hiện nghiệp vụ tài chính cho phép các NHTM có khả năng tham gia vào hoạt động của TTCK cả với tư cách là người tăng cung về chứng khoán; mua, bán chứng khoán (người kinh doanh); người môi giới; người bảo lãnh các chủ đầu tư, người nhận lãi thu nhập về chứng khoán…

Các NHTM trở thành người tăng cung chứng khoán khi các NHTM cổ phần phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động cũng như phát hành trái phiếu của tất cả các NHTM để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc làm này đã cung cấp cho TTCK một khối lượng hàng hóa rất lớn ở thị trường sơ cấp.

Các doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu (đối với các CTCP) hoặc trái phiếu (với tất cả các doanh nghiệp) để tạo vốn hoặc tăng vốn bổ sung có thể nhờ các NHTM làm các dịch vụ như: tư vấn về vấn đề phát hành (lựa chọn loại chứng khoán phát hành, lợi suất, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác); nhờ ngân hàng làm đại lý phát hành chứng khoán hưởng phí hoa hồng hoặc bao tiêu toàn bộ chứng khoán của một đợt phát hành và hưởng phí bao tiêu.

Các NHTM thực hiện các dịch vụ với tư cách là một trung gian môi giới chứng khoán, như mua chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí hoa hồng; bảo quản bộ chứng khoán; thu hồi vốn, nhận lãi chứng khoán hộ cho khách hàng cũng như dịch vụ thanh toán các chứng khoán; tư vấn mua bán chứng khoán, hoặc ngân hàng có thể mua bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi hoặc hưởng chênh lệch giá…

+ Các hợp tác xã tín dụng

Trong nền KTTT, bên cạnh các TCTD lớn như Ngân hàng, các công ty tài chính còn tồn tại và phát triển các hội tín dụng, các hợp tác xã tín dụng quận, huyện để phục vụ cho các cơ sở kinh doanh nhỏ và hộ nông dân. Chẳng hạn, ở Nhật Bản nguồn vốn là các khoản tiền cho vay của tất cả các tổ chức (hợp tác xã) nông nghiệp năm 1976 lên tới 117,8 ngàn tỷ Yên, chiếm hơn 12% tổng số tiền gửi và chứng khoán của tất cả các ngân hàng trong nước [25, tr. 156].

Các hợp tác xã tín dụng hay hiệp hội tín dụng là tổ chức thuộc sở hữu tập thể, được thành lập chủ yếu theo phương thức góp vốn cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc: tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng. Nó xuất hiện khi các NHTM ở đô thị và ngân hàng cổ phần ở nông thôn chưa chiếm lĩnh được thị trường này.

Tổ chức tín dụng hợp tác được huy động vốn của các thành viên và các tổ chức, cá nhân để cho các thành viên vay. Việc cho các đối tượng không phải là thành viên vay phải được đại hội thành viên hay đại hội đại biểu chấp thuận và không được vượt quá tỷ lệ tối đa do NHNN qui định.

Ngoài nghiệp vụ vay và cho vay, các hợp tác xã tín dụng còn có thể thực hiện một số dịch vụ như nhận gửi vàng, bạc, đá quí, thanh toán hộ giữa các chủ thể kinh tế, giữa nhân dân với nhau… Ngoài các dịch vụ trên còn có một số dịch vụ khác thuộc loại nghiệp vụ ngân hàng mà các hợp tác xã tín dụng cũng có thể làm nếu có đủ các điều kiện và khả năng như: dịch vụ về mua bán, chuyển nhượng, quản lý chứng khoán. Ở các nước KTTT, hầu hết các hợp tác xã tín dụng đều thực hiện các nghiệp vụ này và được hưởng các khoản lệ phí hoa hồng.

+ Các công ty tài chính

Các công ty tài chính hoạt động chủ yếu là thu hút vốn (bằng phát hành tín phiếu) để đóng góp và quản lý các dự án đầu tư và cho vay để mua bán hàng hóa, dịch vụ.

Điều khác biệt quan trọng giữa công ty tài chính và NHTM là nó không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt, không huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư và không sử dụng vốn vay của dân để làm phương tiện thanh toán. Các công ty tài chính hoạt động bằng nguồn vốn của mình hoặc vay dân bằng phát hành tín phiếu.

Trong nền KTTT, các công ty tài chính gắn liền với các nghiệp vụ về chứng khoán, được tổ chức thành các hội chứng khoán, có tên gọi khác nhau, như công ty chứng khoán, công ty tài chính chứng khoán, công ty tín thác đầu tư chứng khoán và hiệp hội các nhà buôn chứng khoán. Mỗi công ty hay hiệp hội này đều chuyên môn hóa một hoặc một vài nghiệp vụ chứng khoán nhất định.

+ Các công ty bảo hiểm, các quĩ hưu trí tham gia TTV với tư cách vừa là người mua, vừa là người bán chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận từ cổ tức, hoặc lãi trái phiếu hàng năm, hoặc hưởng chênh lệch giá, hoặc tìm kiếm thanh khoản. Cùng với các công ty tài chính, các quĩ bảo hiểm, các quỹ hưu trí ngày càng xâm nhập và bành trướng trên TTCK, nên ở một số nước người ta phải quy định giới hạn mua cổ phiếu của họ trong các doanh nghiệp.

– Người môi giới và kinh doanh chứng khoán

Những người môi giới hay những người kinh doanh (hay còn gọi là buôn bán) chứng khoán tham gia TTV ở TTCK thứ cấp với các vai trò khác nhau.

Những người môi giới là những người trung gian thuần túy, họ hành động như các đại lý cho những người mua bán chứng khoán. Chức năng của họ là làm phù hợp nhu cầu của những người mua và những người bán, danh từ chuyên môn gọi là những nhà ‘Kinh kỹ”. Họ tham gia TTCK nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường là thực và thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư, vì những người đầu tư không thể xét đoán được giá trị tương lai của nó. Do đó, nếu không có những nhà “Kinh kỹ” với chuyên môn của mình, có thể làm được tốt những điều như trên thì người mua chứng khoán có thể bị nhầm lẫn hoặc bị lừa gạt. Chính vì thế việc định giá chứng khoán trên thị trường hoàn toàn thuộc về các nhà “Kinh kỹ”, khi thực hiện nghiệp vụ này họ được hưởng một khoản phí hoa hồng.

Khác với người môi giới, những nhà kinh doanh chứng khoán nối những người bán và người mua chứng khoán bằng cách đứng ra mua chứng khoán của người bán, sau đó bán lại cho người mua khác những chứng khoán này với giá cao hơn để hưởng thu nhập do chênh lệch giá. Đây là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro lớn vì những người buôn nắm giữ chứng khoán, nếu giá chứng khoán đó lên thì có lời và ngược lại sẽ bị lỗ, thậm chí có thể bị phá sản trong vài tiếng đồng hồ.

Khác với những người kinh doanh chứng khoán, những người môi giới không bị rủi ro do biến động thị giá chứng khoán, vì họ không nắm giữ chứng khoán trong quá trình hành nghề của mình.

Ngày nay, các nước phát triển đã hình thành những công ty chứng khoán lớn làm cả hai nghiệp vụ trung gian môi giới mua bán chứng khoán hưởng hoa hồng và kinh doanh chứng khoán hưởng chênh lệch giá.

 Các chủ thể hoạt động trên TTV rất đa dạng, phong phú cả về cấp độ (nhà nước, các doanh nghiệp), loại hình tổ chức, các thành phần nghiệp vụ, do đó các chủ thể cũng đóng những vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển TTV, trong đó Nhà nước và các tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng quyết định đến sự hình thành và phát triển của TTV. Ở nước ta, sau hơn 15 năm đổi mới, hoạt động huy động, phân phối, sử dụng vốn đã từng bước được chuyển sang cơ chế thị trường. Đến nay, các chủ thể hoạt động trên TTV theo thông lệ quốc tế về cơ bản đã được hình thành. Song các chủ thể này còn ít về số lượng non kém về nghiệp vụ và chất lượng hoạt động, đặc biệt là các chủ thể quan trọng như các CTCP và công ty môi giới chứng khoán đòi hỏi phải có chất lượng và trình độ chuyên môn rất cao.

 1.1.2.2. Các công cụ tài chính và giá cả của chúng trên thị trường vốn

– Các công cụ tài chính

Các các công cụ tài chính là các công cụ dùng trao đổi, mua bán trên TTV bao gồm rất nhiều loại, ở đây chỉ đề cập đến một số công cụ cơ bản đã, đang và có thể sử dụng trên TTV Việt Nam cùng với những đặc trưng nổi bật của nó.

Chứng khoán

Theo nghĩa nguyên thủy, chứng khoán là chứng thư, chứng từ dùng thay cho tiền bạc. Về lịch sử, dân tộc Pheniciens – chủ nhân các thương thuyền vùng Địa trung hải là những người có sáng kiến dùng chứng thư, chứng từ, dùng bút tạo ra giá trị tương đương nên luật kinh tế gọi là bút tệ. Các chứng thư, chứng từ này được các giới doanh thương tín nhiệm trao đổi với nhau để tiếp nhận tài sản hàng hóa bằng cách bối thư (tức là ký tên ở phía sau lưng chứng thư) hoặc đơn giản hơn là chỉ gạch chéo ở một góc chứng thư, chứng từ ấy. Bút tệ trở thành tín phiếu, tín chỉ.

Ngày nay, chứng khoán được hiểu là tờ giấy làm bằng chứng, chứng nhận cho người cầm giữ nó những quyền nhất định đối với một loại tài sản nào đó. Theo cách hiểu rộng nhất của các nhà kinh tế thì chứng khoán là các giấy tờ có giá có thể chuyển nhượng được. Theo quan niệm này chứng khoán bao gồm không chỉ cổ phiếu, trái phiếu, mà còn bao gồm cả các sản phẩm của thị trường tiền tệ ngắn hạn (tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng), các loại thương phiếu, hối phiếu, lệnh phiếu.

Theo cách hiểu thông thường, kinh điển và phổ biến, khi nói đến chứng khoán, người ta ngụ ý nói đến cổ phiếu, trái phiếu (bao gồm cả công trái, quốc trái) dài hạn và một số chứng phiếu tạp lai (chứng chỉ đầu tư, chứng thư dự phần).

Hiện nay, các thị trường tài chính nói chung và TTV, TTCK nói riêng được mở rộng và hiện đại hóa, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, do đó khái niệm chứng khoán cũng được mở rộng thêm. Song theo chúng tôi, một thuật ngữ chuẩn không chỉ đảm bảo tính khoa học, mà đồng thời còn phải bảo đảm tính thực tế, đối với các khái niệm quan trọng có liên quan mật thiết và chi phối thường xuyên đến đời sống kinh tế- xã hội thì còn phải được luật pháp hóa nữa- nhất là đối với các thuật ngữ cơ bản trên TTV. Theo Nghị định 48/1998/NĐ-TTg về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì: “chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành” [61]. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Nghị định số 48/1998 các chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quĩ đầu tư, các loại chứng khoán khác.

Tất cả các loại chứng khoán đều có chung một đặc tính cơ bản là tính khả nhượng (có khả năng mua bán, chuyển nhượng). Pháp luật bảo vệ giá trị chứng khoán tức là bảo vệ nền kinh tế quốc dân. Phát hành trao đổi, chuyển nhượng, lưu thông, tích lũy chứng khoán đều phải làm theo luật.

Về phân loại các chứng khoán, căn cứ vào lợi tức hoặc căn cứ vào hình thức phát hành các chứng khoán gồm các loại cơ bản sau: chứng khoán có lợi tức cố định, chứng khoán có lợi tức thay đổi, chứng khoán vô danh, chứng khoán ký danh và chứng khoán hỗn hợp. Thông thường khi nói đến chứng khoán là nói đến hai loại sau:

Một là, cổ phiếu (Stock, Share, action)

Cổ phiếu là một loại chứng khoán có giá, ghi nhận quyền sở hữu vốn đóng góp vào CTCP, đồng thời đảm bảo cho người có cổ phiếu được quyền lĩnh một phần thu nhập của công ty tương ứng với số tiền ghi trên mặt phiếu (thu nhập này gọi là lợi tức cổ phần) và được quyền tham gia quản lý công ty. Có hai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Mỗi loại cổ phiếu có những đặc điểm riêng và do đó có ưu, nhược điểm riêng. Ví dụ, là cổ phiếu thường thì mức độ rủi ro cao, nhưng bù lại khi công ty làm ăn phát đạt thì sẽ được hưởng mức cổ tức cao; ngược lại, cổ phiếu ưu đãi có độ rủi ro thấp nhưng khi công ty làm ăn phát đạt các cổ đông có cổ phiếu ưu đãi lại chỉ nhận được phần thu nhập khiêm tốn như đã cam kết. Bởi vậy, cổ phiếu ưu đãi phù hợp với những nhà đầu tư không ưa mạo hiểm. Một khác biệt cần chú ý giữa cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi là chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi không có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị, Ban kiểm soát công ty. Ngày nay các công ty có xu hướng đa dạng hóa các loại cổ phiếu ưu đãi nhằm tăng tính hấp dẫn của nó, nên các loại cổ phiếu ưu đãi bao gồm: cổ phiếu ưu đãi tích lũy, cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển thành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *