Hệ thống NHTMQD ở VN- Thực trạng và giải pháp

viet-thue-luan-van-thac-si-luat
Like để cảm ơn người viết

 Lời nói đầu

1. Sự cần thiết của đề tài :

          Vai trò của hệ thống NHTM Việt Nam trong nền kinh tế thị trường đã được khẳng định từ khi hệ thống NHVN chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp. Hệ thống NHTM là lực lượng nòng cốt trong hệ thống các tổ chức tín dụng VN. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống NHTMVN không ngừng đổi mới, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi nền kinh tế ngày càng có xu hướng mở cửa, nền tài chính quốc gia từng bước hoà nhập vào hệ thống tài chính quốc tế thì hệ thống NHTMVN lại bộc lộ rất nhiều yếu kém. Sự yếu kém ở đây không chỉ là sự yếu kém về công tác quản lý, cơ cấu tổ chức mà còn nguy hại hơn là sự yếu kém về tình hình tài chính,  một trong những điều kiện quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng. Nếu những yếu kém trên không được khắc phục ngay thì hệ thống NHTMVN không những không đảm nhận tốt vai trò trung gian tài chính mà còn có nguy cơ phá sản, đe doạ đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu hoạt động của hệ thống NHTMQD là bộ phận đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các NHTMVN, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới là việc làm cần thiết.

          Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài “Hệ thống NHTMQD ở VN- Thực trạng và giải pháp”  để nghiên cứu.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn :

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của các ngân hàng thương mại của các tác giả trong nước và quốc tế. Điển hình là  một số đề tài nghiên cứu như :

– Đề tài :”Những vấn đề cơ bản về hoàn thiện các tổ chức tín dụng ở  Việt nam…”

  Mã số KNH/95-08-02 – Ngân hàng nhà nước Việt nam 12/2001.

Do tiến sĩ Lê Đình Thu và Nguyễn Đại Lai là chủ nhiệm Đề tài

– Đề tài : “Thiết lập các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh và bảo đảm an toàn  trong hoạt động của ngân hàng thương mại Việt nam”

Mã số KNH 2000-4 – Ngân hàng nhà nước Việt nam 2001

Do tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa là chủ nhiệm đề tài

– Đề tài : “Nghiên cứu giải pháp thực hiện chiến lược tổng thể phát triển ngành ngân hàng Việt nam giai đoạn 2001-2010”

Mã số KNH 99-06 – Ngân hàng nhà nước Việt nam 12/2001

Do Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Tiến sĩ Nguyễn Đại Lai, Tiến sĩ Phạm Thuý Ngọc và MA Nguyễn Sơn Tường làm chủ nhiệm đề tài

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác được công bố trên các tạp chí khoa học. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở khía cạnh phân tích các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM hay về một khía cạnh trong hoạt động của NHTM. Việc tập trung nghiên cứu một cách hoàn chỉnh cả lý luận và thực tiễn về  hệ thống NHTMQD ở VN còn chưa được chú ý đúng mức.

3. Mục đích nghiên cứu :

– Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống NHTMQD trong thời gian gần đây, qua đó làm rõ những thành tựu đã đạt được, những hạn chế và những vấn đề đang đặt ra đối với hệ thống này. Luận văn cố gắng đề xuất các giải pháp cơ bản  nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTMQDVN.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

          Đối tượng nghiên cứu : Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của hệ thống NHTMQD với tư cách là bộ phận chủ chốt của hệ thống ngân hàng Việt nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động của hệ thống NHTMQD thời kỳ đổi mới kinh tế, đặc biệt là từ  sau khi có pháp lệnh Ngân hàng.

Luận văn không đi sâu nghiên cứu các hoạt động tác nghiệp của NHTMQD, cũng  như không đi sâu phân tích từng NHTMQD mà chỉ quan tâm đến từng NHTMQD trong chừng mực góp phần làm rõ thực trạng hoạt động của toàn bộ hệ thống NHTMQD.

5. Phương pháp nghiên cứu :

         Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Gắn với đối tượng nghiên cứu của đề tài, luận văn chú trọng  một số phương pháp cụ thể như phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê so sánh, dự báo .

6. Những đóng góp khoa học của luận án:

– Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về NHTM trong nền kinh tế thị trường

– Đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống NHTMQD hiện nay, chỉ ra những hạn chế của hệ thống này trong quá trình phát triển.

– Đề xuất các quan điểm và các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTMQD trong giai đoạn mới.

7. Bố cục của luận văn :

 Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động của hệ thống NHTM trong nền kinh tế thị trường.

Chương 2 :  Thực trạng hoạt động của các NHTMQD ở Việt Nam.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTMQD trong giai đoạn mới.

 

CHƯƠNG 1

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 NHTM VÀ VAI TRÒ CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1. NHTM : Khái niệm và các loại hình

1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Thuật ngữ “ ngân hàng “ đã có từ rất lâu. Tiền thân của ngân hàng chính là quá trình biến đổi trong hoạt động của những người chuyên làm nghề dịch vụ kho quỹ, những người thợ vàng, thợ bạc và ngân hàng ra đời do sự thúc đẩy khách quan của quá trình phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá và hoạt động thương mại. Sự “lệch pha “ về mặt thời gian giữa thời hạn gửi tài sản so với thời hạn mà người cầm giấy biên nhận cùng với một “khoản “ thù lao cho người bảo quản đến “chuộc” tài sản đã tự nhiên trở thành quá trình phân cực giữa  “nguồn” (là tài sản của người gửi đồ nằm trong kho) với dấu hiệu giá trị của nguồn tài sản đó (biểu hiện bằng giá trị danh nghĩa ghi trên các giấy biên nhận gửi tài sản ) lưu hành trong xã hội.

Việc trả nợ bằng những giấy biên nhận làm cho quá trình thanh toán đơn giản hơn rất nhiều và tiết kiệm cho những người trả nợ, nhận nợ. Vì những người nợ không phải đến chỗ các thợ vàng, bạc trình biên lai rút ra số tiền, vàng cần thiết để trả cho chủ nợ. Những người chủ nợ này ngay sau đó lại lập tức gửi vào chỗ người thợ vàng của mình. Để giúp cho việc thanh toán được thuận lợi, những người thợ vàng phát hành biên lai ở dạng tiện lợi, làm cho người chủ sở hữu nó có thể dùng để chi trả và chuyển quyền sở hữu của biên lai sang chủ mới. Chính sự tiện lợi đó đã tôn những giấy biên nhận lên vị trí hàng đầu trong số các công cụ thanh toán đương thời (tiền đúc, vàng nén, bạc thỏi…) Đó là tiền thân của tờ ngân phiếu và nghiệp vụ phát hành giấy bạc, nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng ngày nay.

Những người thợ vàng sớm phát hiện ra rằng, những gì ký gửi cho họ tương đối ổn định. Ở một thời điểm bất kỳ số lượng vàng, tiền được rút ra chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số tiền vàng họ giữ, hơn nữa trong khi một số khách hàng rút tiền vàng ra khỏi kho của người thợ vàng, thì một số khác lại gửi vào-đồng thời lại có rất nhiều người đang thiếu vốn để buôn bán sản xuất. Những người thợ vàng có đầu óc kinh doanh đã nghĩ ra việc cho vay để lấy lãi từ những khoản ký gửi ổn định bằng cách phát hành ra nhiều giấy biên nhận hơn là số vàng dự trữ trong kho. Đó chính là tiền thân của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng ngày nay. Từ thời điểm này những người thợ vàng đã trở thành nhà ngân hàng, bởi vì theo nghĩa bóng họ đã tạo ra tiền. Khái niệm hoạt động ngân hàng theo tỷ lệ dự trữ đã được khai sinh.

Các ngân hàng như vậy tiếp tục hoạt động, những dịch vụ khác cũng được phát triển theo : mua bán vàng bạc, ngoại tệ, tài khoản ký gửi…Các chủ ngân hàng, dưới sự thôi thúc của động cơ lợi nhuận đã mở rộng tín dụng, không chỉ với số tiền hiện có trong kho mà còn nâng lên đi vay để cho vay.

Sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng, giao lưu hàng hóa ngày càng mở rộng, làm phát sinh nhu cầu mua bán chịu hàng hóa và được ghi nhận bằng thương phiếu. Chính thương phiếu là một công cụ nợ vừa mang tính chất phương tiện thanh toán, vừa là công cụ tín dụng thương mại, đã tạo điều kiện cho một loạt nghiệp vụ ngân hàng ra đời và phát triển: tài khoản ký gửi, chiết khấu thương phiếu, tín dụng ngân hàng, thanh toán.

Kinh tế ngày càng phát triển, số lượng và quy mô của các ngân hàng như vậy không ngừng tăng lên. Để có thể tồn tại trong bối cảnh đó, các ngân hàng buộc phải tìm những biện pháp nâng cao chất lượng và uy tín của mình trên thị trường như: giảm, miễn phí gửi tiền, trả lãi cho người có tiền gửi, giảm lãi suất cho vay… Tức là thực thi một loạt biện pháp nhằm nâng cao năng lực kinh doanh tiền tệ. Chính nhờ phản ứng tự  hoàn thiện này, mà nhiều ngân hàng sơ khai đã phát triển thành những ngân hàng thực thụ: ”Là nơi tập trung tư bản tiền tệ của những người có tiền cho vay và người đi vay”[6, Tr 490]

Việc hệ thống lại quá trình ra đời và hình thành những hoạt động đầu tiên của ngân hàng, cho phép ta khẳng định : Khởi tổ là dịch vụ đổi tiền cùng với sự phát triển, đòi hỏi của nền kinh tế và giao lưu hàng hóa, ngân hàng đã dần hình thành và hoàn thiện các nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên do hoạt động ngân hàng thương mại rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ ngân hàng thường phức tạp và các vấn đề này lại luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt khác do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau đã dẫn đến quan niệm về ngân hàng thương mại không thật đồng nhất.

Tuy nhiên xuất phát từ sự ra đời của ngân hàng, từ những chức năng cơ bản của ngân hàng sơ khai người ta đã định nghĩa : Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ -tín dụng. Nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền của khách hàng dưới hình thức khác nhau. [10,tr 254-255]

Kinh tế càng phát triển, hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại cũng phát triển theo và các chức năng của nó cũng được mở rộng, khi đó các nhà kinh tế định nghĩa : NHTM là những trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể sử dụng các tờ séc.

Ngày nay, trên toàn thế giới, ngân hàng là loại hình tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất. Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ các công trình công cộng. Ngân hàng cũng là một trong những tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp, và trong những năm gần đây, ngân hàng đã tăng cường mở rộng cho vay dài hạn đối với doanh nghiệp để hỗ trợ xây dựng nhà máy mới hay mua sắm máy móc thiết bị mới. Ví dụ các ngân hàng Mỹ nắm giữ  khoảng 1/3 tổng tài sản của tất cả các tổ chức tài chính đóng trụ sở tại Mỹ.

Ở các nước khác, như Nhật Bản, các ngân hàng nắm giữ phần lớn tài sản của phần lớn các tổ chức tài chính.

Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính- bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu  đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực hoạt động bất động sản và môi trường chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư  vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ khác.

Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà nó cung cấp. Ở Mỹ người ta định nghĩa về ngân hàng như sau : Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế [26,tr 7]

Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng đã dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores). Dưới đây là các chức năng cơ bản của một ngân hàng hiện đại

 1.1.1.2 Các loại hình NHTM trên thế giới  [9]; [11; [12]

Ngày nay trên thế giới có nhiều loại hình NHTM khác nhau, có nhiều tiêu chí để phân loại các NHTM như :

– Căn cứ  vào chức năng chủ yếu, các ngân hàng được phân chia thành ngân hàng đa năng hay ngân hàng chuyên doanh.

– Căn cứ vào hình thức sở hữu, các ngân hàng được phân chia thành ngân hàng Nhà nước, ngân hàng cổ phần, ngân hàng tư nhân, ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài..

– Căn cứ vào quy mô và đối tượng khách hàng, các ngân hàng được phân chia thành ngân hàng bán buôn hay ngân hàng bán lẻ..

Các loại hình ngân hàng kể trên chiếm ưu thế và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cung tiền tệ ( khối lượng tiền tệ tăng giảm, chủ yếu là do các ngân hàng này chi phối ).

          Trong quá trình tiến hành kinh doanh, các ngân hàng sử dụng vốn  chủ yếu từ  các nguồn tiền gửi và vay vốn qua phát hành trái phiếu. Trên cơ sở đó các ngân hàng đã tiến hành hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi từ nền kinh tế.  Chẳng hạn như : cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và các loại hoạt động đầu tư  khác.

Trong nền kinh tế thị trường các mô hình ngân hàng thương mại được tổ chức dưới một số hình thức sau:

* Ngân hàng kinh doanh đa năng

Là loại hình ngân hàng thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng: cho vay, thực hiện các nghịệp vụ giấy tờ có giá, nhận tất cả các loại tiền gửi, làm tất cả các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng..

Loại ngân hàng này có nhiều dạng: ngân hàng tư nhân (sở hữu của một gia đình, sở hữu cá nhân , sở hữu của cổ đông), ngân hàng công (sở hữu nhà nước). Có ngân hàng ở tầm quốc gia, quốc tế,  song cũng có ngân hàng chỉ có tính chất khu vực.

Đặc điểm cơ bản của các ngân hàng này là : phong phú về các nghiệp vụ, tiếp cận được nhiều loại khách hàng, khả năng phân tán rủi ro cao.

* Ngân hàng chuyên doanh

Ngược lại với ngân hàng đa năng, ngân hàng chuyên doanh chỉ thực hiện một hoặc một số ít nghiệp vụ ngân hàng (gần như chuyên môn hoá các hoạt động). Ở một số nước, luật ngân hàng còn giới hạn hoặc cấm các ngân hàng cho vay tiêu dùng.

Đặc điểm cơ bản của ngân hàng này là nghiệp vụ kinh doanh mang tính hạn hẹp, phạm vi hoạt động bị giới hạn, tính chuyên môn hoá cao.

Qua nghiên cứu xu hướng phát triển các loại hình NHTM trên thế giới cho thấy không có một nước nào chỉ tồn tại một loại hình ngân hàng đa năng hay ngân hàng chuyên doanh.

Bởi vì có khi ở một nước loại hình ngân hàng đa năng chiếm vị trí ưu thế, thì vẫn có những ngân hàng chuyên doanh, và ngược lại ở một số nước mặc dù các ngân hàng chuyên doanh chiếm ưu thế hoặc đa số thì gần đây ngày càng có xu hướng chuyển sang kinh doanh đa năng.

Những biến đổi theo các xu hướng trên đã diễn ra trong những thập kỷ qua. Xu hướng chuyên môn hóa các ngân hàng đã từng chiếm vị trí thống trị ở Anh, Pháp, Mỹ, Nhật. Xu hướng kinh doanh đa năng từng chiếm vị trí thống trị ở Thụy Sĩ, CHLB Đức, Áo. Nhưng dần dần các ngân hàng lớn, một mặt mở rộng phạm vi các nghiệp vụ, mặt khác các ngân hàng chuyên doanh trước đây nay cũng đa năng hóa trở lại hoạt động của mình.

Xu hướng hiện đại trong các luật ngân hàng gần đây là không tạo ra sự phân biệt các ngân hàng đa năng và các ngân hàng chuyên doanh như trước mà hình thành một loại ngân hàng hoạt động đa năng.

* Ngân hàng bán buôn

Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó là thực hiện với các khách hàng lớn.

Đặc điểm của ngân hàng bán buôn là : số lượng giao dịch của ngân hàng nhỏ, nhưng giá trị của các khoản giao dịch lớn. Hoạt động của ngân hàng bán buôn thường tập trung ở các trung tâm thương mại do đối tượng khách hàng mà ngân hàng phục vụ thường là khách lớn và nằm tại trung tâm thương mại.Vốn hoạt động của ngân hàng bán buôn lớn do đối tượng phục vụ có nhu cầu đòi hỏi vốn cao. Phạm vi hoạt động của ngân hàng bán buôn hẹp về số lượng khách hàng, số lượng giao dịch, lĩnh vực đầu  tư  vốn

* Ngân hàng bán lẻ

Là một loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực  hiện với các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân.

Đặc điểm của ngân hàng này là : số lượng giao dịch của ngân hàng lớn, giá trị của từng khoản nhỏ. Phạm vi hoạt động của ngân hàng bán lẻ rất rộng, địa bàn hoạt động của tổ chức, mạng lưới rất lớn.Vốn thực hiện đầu tư của ngân hàng bán lẻ mang tính phân tán do khách hàng phục vụ thuộc nhiều loại hình khác nhau. Hoạt động của ngân hàng bán lẻ về mặt vốn thường nhỏ và tính ổn định của vốn thấp.

Qua nghiên cứu hai loại hình ngân hàng trên cho thấy xu hướng phát triển của ngân hàng bán buôn chỉ mở rộng tại những địa bàn mà ở đó diễn ra cung và cầu vốn lớn như ở các trung tâm thương mại lớn, ở những nước kinh tế phát triển và những nơi có hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh.

Các ngân hàng bán lẻ có xu thế ngày càng mở rộng, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển và trong thực tế luôn luôn tồn tại cùng với ngân hàng bán buôn.

1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế

Hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh doanh tiền tệ. Chúng là những tổ chức trung gian và môi giới tài chính, hoạt động như những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiền tiết kiệm -tích luỹ được trong xã hội đến tay những người có nhu cầu chi tiêu cho đầu tư. Nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng như về đối tượng và phương pháp kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân về lịch sử và chế độ kinh tế và ngày nay chúng đều là những sản phẩm của thể chế tài chính của mỗi nước.

Lịch sử của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Các ngân hàng thương mại từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ, bảo quản tiền cho người chủ sở hữu để nhận những khoản thù lao, đã trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi. Điều đó có nghĩa là huy động tiền gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn cho vay nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được.

Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các ngân hàng thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán. Trong đó, quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thanh toán bằng séc, một trong những công cụ chủ yếu  để vận động qua ngân hàng. Thông qua quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lưu kinh tế là tiền qua ngân hàng.          Do đó, hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.

          Trong thế giới hiện đại, tính cho đến thời điểm này thì ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính của mỗi nước. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực và theo hướng chuyên sâu.Vai trò của ngân hàng thương mại thể hiện ở những điểm sau:

1.1.2.1 Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Vốn được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và nhà nước trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý. Để tăng thu nhập quốc dân tức là cần phải mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của ngành trong nền kinh tế và muốn làm được điều đó cần thiết phải có vốn. Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo ra nhiều nguồn vốn, điều đó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi từ mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như : vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng vốn huy động được trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ có hoạt đông của hệ thống NHTM và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.

1.1.2.2 Ngân hàng là cầu nối giữa khách hàng với thị trường

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như  quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện được thể hiện như: không những thoả mãn nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả  trên phương diện thời gian địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý, chế độ hạch toán kế toán…mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp…Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Do đó, để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư  của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doang nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.

1.1.2.3 Ngân hàng thương mại là “cầu nối” giúp NHTW thực thi chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về ngân hàng Trung ương. Để thực thi chính sách tiền tệ đó phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng…Chính các ngân hàng thương mại là chủ thể chịu tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và  nền kinh tế. Ngược lại cũng qua  ngân hàng thương mại và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất tỷ giá.. của nền kinh tế được phản hồi về cho ngân hàng Trung ương để chính phủ và ngân hàng Trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể.

Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể kinh tế. Trong quá trình hoạt động đó, NHTM thực hiện vai trò cầu nối giúp NHTW điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế thông qua các chức năng của mình, biểu hiện các mối quan hệ giữa NHTM với các tổ chức kinh tế, cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt,…đảm bảo hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế được bình thường.

Bằng chính sách và những biện pháp tín dụng, NHTM đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và dịch vụ. NHTM có thể gia tăng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng với từng doanh nghiệp, hoặc có thể thực hiện quan hệ tín dụng đối với doanh nghiệp trong từng trường hợp cần thiết. Tất cả những vấn đề đó đều liên quan và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Như vậy, việc sử dụng vốn vay ngân hàng vừa giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vốn bị thiếu hụt trong kinh doanh, vừa ý thức cho doanh nghiệp về trách nhiệm của mình trong quá trình sử dụng vốn. Từ đó giúp cho doanh nghiệp có những lựa chọn quyết định của mình trong việc sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh hiện có. Doanh nghiệp sử dụng vốn vay, khi đến hạn phải hoàn trả vốn kèm theo lãi vay cho ngân hàng, điều đó buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng khi sử dụng vốn sao cho mang lại hiệu quả cao nhất.

3.2.3 Đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng và giảm thiểu chi phí hoạt động của các NHTMQD

3.2.3.1. Tạo điều kiện cho các ngân hàng tăng cường đa dạng hoá các dịch vụ  kinh doanh

Như đã đề cập ở phần trên, hoạt động tín dụng là hoạt động giữ vị trí độc tôn trong các NHTM Việt nam. Vì thế thu nhập cuối cùng của các NHTM đã chịu sự chi phối mạnh của hoạt động tín dụng. Phương thức kinh doanh đơn lẻ này đã làm cho các ngân hàng rơi vào tình trạng “ bỏ trứng trong một giỏ”-trái ngược hẳn với chiến lược phân tán rủi ro trong kinh doanh, không phù hợp với ngân hàng hiện đại, cản trở quá trình hội nhập tài chính của hệ thống ngân hàng Việt nam. Để khắc phục được điều đó, buộc các ngân hàng phải tự nghiên cứu, đưa ra nhiều sản phẩm có hiệu quả, mạnh dạn tham gia vào các dự án lớn dưới nhiều hình thức .

Nhận thức việc phát triển sản phẩm mới là công cụ chiến lược để chiếm lĩnh thị trường trong tương lai, các NHTMQD nên tập trung phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử như Home-banking, E-banking, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc tín dụng… Đây được đánh giá là các hoạt động dịch vụ ngân hàng đem lại lợi nhuận cao và có mức rủi ro thấp hơn các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Trong điều kiện vốn tự có còn quá ít thì việc phát triển các sản phẩm mới là giải pháp tối ưu, an toàn và phù hợp với xu hướng hoạt động của các ngân hàng hiện đại trên thế giới.

Xét về tổng thể, việc phát triển các sản phẩm mới còn là điều kiện bắt buộc để tiến tới khép kín các nhu cầu về lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Điều này không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho chính ngân hàng quản lý chắc chắn đồng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo tính an toàn cao trong hoạt động ngân hàng.

Từ nhận thức đó các NHTMQD nên xây dựng  phương hướng và mục tiêu phát triển trong thời gian tới là tiếp tục củng cố và từng bước nâng cao  chất lượng các sản phẩm truyền thống hiện có ; chủ động lựa chọn, mở rộng, đa dạng hoá các hình thức dịch vụ mới nhằm đáp ứng được yêu cầu dịch vụ đa dạng và khép kín của khách hàng; tập trung phát triển và hoàn thiện dịch vụ ngân hàng bán lẻ và các dịch vụ ngân hàng phục vụ các khách hàng lớn, trọng điểm. Các Ngân hàng cần chú trọng tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát thực tế để có thể đưa ra được những sản phẩm mới trên thị trường

Bên cạnh đó Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện các điều kiện, tạo thuận lợi cho các ngân hàng được tham gia vào thị trường chứng khoán -thị trường luân chuyển vốn có hiệu quả nhất. Hơn nữa, quá trình hội nhập khu vực và tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá với các hiệp định song phương và đa phương làm cho các hoạt động cạnh tranh ngày càng toàn diện hơn và quyết liệt hơn. Phát triển dịch vụ ngân hàng có tính cạnh tranh cao sẽ góp phần quan trọng đến sự tăng trưởng lâu bền của ngân hàng.

3.2.3.2 Giảm thiểu chi phí hoạt động của các NHTMQD

Chi phí hoạt động của các NHTM Việt nam nhìn chung là cao hơn so với các NHTM trong khu vực, đặc biệt là các NHTMQD. Chi phí hoạt động cao sẽ dẫn đến việc hạn chế khả năng sinh lời của các ngân hàng, vì vậy việc giảm thiểu chi phí hoạt động là một vấn đề quan trọng trong chiến lược cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Để thực hiện được điều này trước hết phải áp dụng một số biện pháp sau:

– Tiến hành kiểm soát chặt chẽ hệ thống các chi nhánh, xoá bỏ hoặc sát nhập các chi nhánh không có hiệu quả

– Xác định các định mức trang bị mua sắm tài sản theo nhu cầu và phù hợp với hiệu quả kinh doanh, quản lý chi tiêu theo định mức, khuyến khích cắt giảm các chi phí không hợp lý.

– Hạn chế tối đa các khoản đầu tư, các hoạt động dịch vụ tạm thời chưa có hiệu quả.

– Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tín dụng đối với các khách hàng, doanh nghiệp có nợ quá hạn lớn và kinh doanh kém hiệu quả.[22];[34]

 

3.2.4 Cải tiến cơ bản mô hình tổ chức và hoạt động của các NHTMQD

3.2.4.1 Cơ cấu lại mô hình tổ chức của các NHTMQD

Cần tách riêng biệt hoạt động cho vay chính sách và cho vay thương mại bằng việc thành lập độc lập một ngân hàng chính sách quốc gia thống nhất để phục vụ các đối tượng chính sách

Để cho các NHTMQD hoạt động có hiệu quả, cần chuyển mô hình tổ chức của các NHTMQD hiện nay sang mô hình tổ chức theo nhóm khách hàng và theo loại dịch vụ kinh doanh kèm theo những định chế quản lý rủi ro và quản lý tài sản có hiệu lực để khắc phục được cơ bản những mặt hạn chế nói trên của các NHTMQD. Theo hướng này, hoạt động của các NHTMQD về cơ bản tổ chức lại thành các khối, các nhốm dịch vụ sau đây:

– Khối dịch vụ ngân hàng phục vụ doanh nghiệp gồm các dịch vụ tín dụng, thanh toán xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, thư tín dụng , bảo lãnh..

– Khối dịch vụ ngân hàng bán lẻ ( cho tư nhân) gồm các dịch vụ tiết kiệm, tài khoản cá nhân, thanh toán thẻ, cho vay tiêu dùng cá nhân..

– Khối kinh doanh trên thị trường tài chính gồm  các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm thuê mua..

– Khối quản lý tài sản sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao, phát triển phương tiện, công nghệ hiện đại, dịch vụ văn phòng..

– Khối hỗ trợ gồm các hoạt động tổng hợp về tổ chức, hành chính, quản trị, kế toán, quan hệ quốc tế..

3.2.4.2 Xác định rõ hơn chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của HĐQT và Ban điều hành

Theo luật doanh nghiệp Nhà nước, bộ máy lãnh đạo của các NHTMQD phân thành hai bộ phận là Hội đồng quản trị và Ban điều hành. Trong thời gian qua, việc phân định chức năng, nhiệm vụ của HĐQT và Ban Tổng giám đốc điều hành còn chưa rõ ràng. Theo cơ chế hiện hành Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc cùng nhận vốn. Song áp dụng cơ chế này, việc phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐQT và BĐH không rõ ràng. Thực tế HĐQT chỉ quản trị ngân hàng trên cơ sở đề nghị của Ban điều hành, điều này đặt HĐQT vào thế bị động (chỉ giải quyết những gì Ban điều hành đề nghị). Mặt khác tình trạng các cơ quản lý Nhà nước nhiều lúc can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, nhất là lĩnh vực tài chính và điều hành đã làm giảm tính tự chủ trong việc điều hành trực tiếp của HĐQT trong ngân hàng.

Chính phủ nên xem xét phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của HĐQT, Tổng giám đốc cho phù hợp tinh thần : HĐQT là cơ quan đại diện sở hữu Nhà nước tại DNNN, Nhà nước giao vốn ( hoặc đầu tư vốn vào ngân hàng) qua HĐQT, Chủ tịch HĐQT là người nhận vốn.Tổng giám đốc do Chủ tịch HĐQT lựu chọn, ký hợp đồng và trình cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp phê chuẩn. Phân biệt rõ trách nhiệm, quyền hạn của HĐQT, BĐH trên tinh thần HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất trong doanh nghiệp, thực hiện việc quản lý trong doanh nghiệp, BĐH thực thi các nghị quyết của HĐQT.

Đây là vấn đề có tính chất đột phá vì nó là nhân tố con người gắn liền với việc chỉnh sửa và bổ sung luật các tổ chức tín dụng hiện hành-Theo đó, đối với toàn bộ hoạt động của các NHTMQD cần xây dựng và đổi mới Điều lệ và quy chế hoạt động phù hợp với luật các TCTD theo hướng thiết chế một HĐQT thực quyền trên các lĩnh vực : Tuyển chọn và bổ nhiệm Tổng giám đốc, Ban điều hành, quyết định chính sách kinh doanh, được tuyển chọn xử lý lao động dôi dư theo Pháp luật và quyết định phương án trả lương theo hiệu quả lao động, chịu trách nhiệm trước Nhà nước ( trực tiếp là Thống đốc ngân hàng nhà nước) về việc bảo toàn và phát triển vốn, được quyền thành lập các công ty con hạch toán độc lập và chịu trách nhiệm trước luật pháp về tính minh bạch trong hoạt động của công ty. Ngoài ra, các thành viên hội đồng quản trị cần phải có đủ những tiêu chuẩn cần thiết theo sự điều chỉnh của quy chế tổ chức và hoạt động áp dụng  chung cho các DNNN, tăng cường quy chế chuyên trách hoá  và  xoá bỏ cơ chế  kiêm nhiệm hoặc “ đại diện “ cơ quan khác cử vào HĐQT

3.2.4.3 Mở rộng quyền tự chủ về tài chính, công tác nhân sự và quản lý nhân sự cho các NHTMQD

Việc mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các NHTMQD có ý nghĩa quyết định tạo ra động lực và hệ thống khuyến khích vật chất nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu lực quản lý. Nghị định 166/1999/ NĐ-CP ban hành ngày 19/11/1999 về chế độ tài chính đối với các TCTD vẫn chưa có văn bản hướng dẫn. Theo nghị định nói trên, quyền tự chủ tài chính của các NHTMQD còn rất hạn chế thể hiện trên một số mặt : tiền thu sử dụng vốn, việc lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro, cơ chế tiền luơng, việc giao quỹ lương và đơn giá tiền lương. Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi theo hướng mở rộng quyền phán quyết, phân cấp phán quyết và NHNN chỉ quản lý vĩ mô bằng luật pháp nhằm kích thích tính năng động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của các NHTMQD.

Do chi nhánh của các NHTMQD hiện đang phân bố trên các địa bàn ( bị coi là ngân hàng của từng Tỉnh) nên việc xắp sếp, điều chuyển cán bộ bị chi phối bởi các cơ quan địa phương (UBND tỉnh, Tỉnh uỷ, NHNN tại tỉnh). Việc bố trí cán bộ vốn là việc nội bộ của các NHTMQD nhưng lại chịu sự quản lý, chỉ đạo của quá nhiều đầu mối nên cũng gặp không ít khó khăn. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch và kết quả kinh doanh của từng NHTMQD.

Việc tiếp nhận và xử lý lao động cũng như các chế tài giữa các bên trong hợp đồng thoả ước lao động thiếu rõ ràng thiếu dứt khoát. Do đó các NHTMQD không đủ các điều kiện pháp lý cụ thể để điều hành công tác nhân sự nghiêm túc theo yêu cầu của các nghiệp vụ kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh và mục tiêu hiệu quả.

Vì vậy việc cải cách các NHTMQD cần phải gắn với việc cơ cấu lại mạng lưới chi nhánh, thống nhất quyền lực quản lý nhân sự và định rõ các chế tài giữa các bên tham gia thoả thuận lao động. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực và kỷ cương quản lý, nâng cao sức ép cạnh tranh, thi đua tăng năng suất lao động trong các NHTMQD.[15];[16];[28];[34];[46]

3.2.5 Có chiến lược đầu tư hợp lý cho phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực

Công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh của hệ thống ngân hàng và là điểm yếu nhất của các NHTM Việt nam hiện nay. Ngân hàng Nhà nước cần gấp rút xây dựng chiến lược chung về phát triển công nghệ trong toàn hệ thống và có chính sách khuyến khích thoả đáng các ngân hàng thương mại đầu tư vào lĩnh vực này, trước mắt cần tập trung đầu tư cải thiện chất lượng dịch vụ hiện có, tạo tiền đề phát triển các dịch vụ mới.

Mặt khác Ngân hàng nhà nước và các ngành hữu quan cần cải tiến và gỡ bỏ những chính sách, quy định đang cản trở việc đưa công nghệ mới vào cuộc sống như chế độ  kế toán, thống kê, chế độ quản lý chứng từ, kho quỹ, chế độ thanh toán chuẩn quốc tế nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình đầu tư đổi mới công nghệ trong toàn hệ thống.

Trước mắt thúc đẩy hơn nữa việc triển khai dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do WB tài trợ nhằm tạo ra nền tảng công nghệ tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt là các tiểu dự án về hệ thống thanh toán nội bộ và kế toán khách hàng có tầm quan trọng đối với quá trình tái cơ cấu các NHTMQD.

Các ngân hàng thương mại cần tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống thông tin quản lý (MIS) phục vụ cho công tác điều hành kinh doanh, kiểm soát hoạt động ngân hàng, quản lý khách hàng, quản lý rủi ro, quản lý tài sản nợ-có và công tác kế toán.

Để triển khai chương trình phát triển công nghệ, các NHTMQD cần rà soát lại các quy định, quy chế, tiêu chí thống kê-kế toán bất hợp lý đang cản trở việc ứng dụng công nghệ hiện đại trình Thống đốc xem xét, sửa đổi trong thời gian tới. NHNN và Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ về tài chính cho các NHTMQD để đầu tư đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ khai thác và xử lý theo yêu cầu quản lý. Khoản chi phí này rất lớn và vượt quá khả năng tài chính của các NHTMQD hiện nay.

Các NHTMQD ngoài việc đầu tư cho phát triển công nghệ một cách hợp lý, còn phải quan tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực. Hiện nay có trên 60% cán bộ của các NHTMQD chưa có trình độ đại học. Một bộ phận lớn các cán bộ quản lý cao cấp của các NHTMQD mặc dù có nhiều kinh nghiệm nhưng chưa được cập nhật kiến thức quản lý ngân hàng hiện đại. Đó là những trở ngại rất lớn cho quá trình cải cách và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng. Việc khẩn trương đào tạo một lớp cán bộ chủ chốt kế cận là cực kỳ cần thiết và mang tính chiến lược để mở đường cho công nghệ mới được tiếp nhận và trở thành phổ biến, phát huy được công dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng.

Vì vậy NHNN và các NHTMQD cần ưu tiên đầu tư thoả đáng cho lĩnh vực đào tạo theo những tiêu chuẩn quốc tế về quản trị ngân hàng, đồng thời gắn việc đào tạo với việc chuyển giao và hiện đại hoá công nghệ, có chính sách nâng đỡ,  thu hút và sử dụng nhân tài nhằm rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí đào tạo. Cán bộ được đào tạo theo chương trình quản trị ngân hàng hiện đại ở trong và ngoài nước. Vai trò của hiệp hội ngân hàng cần phải vươn tới đảm đương vấn đề đặc biệt quan trọng và mang tính chiến lược này.

3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra giám sát hoạt động của các NHTMQD

Hệ thống giám sát hoạt động NHTMQD hiện nay quá coi trọng vào công tác thanh tra tại chỗ, xem nhẹ công tác thanh tra giám sát từ xa và kiểm toán nội bộ. Ý nghĩa  của giám sát từ xa và kiểm toán nội bộ đối với hoạt động ngân hàng, sớm dự đoán các sự cố có thể đến từ nhiều phía đối với ngân hàng, đồng thời giúp cho công tác thanh tra xử lý đúng trọng điểm, kịp thời và có hiệu quả thiết thực, không gây phiền toái cho hoạt động kinh doanh.

Để thực hiện mục tiêu nói trên các NHTM cần tổ chức lại hệ thống phân tích, đánh giá các chỉ tiêu tài chính và các chỉ tiêu khác về cơ số vốn, trị giá lãi thực, vốn dự trữ, tiền vay và các tài sản khác để điều chỉnh kịp thời các hoạt động quản lý giám sát.

Mặt khác phải chấn chỉnh và nâng cao chất lượng của kiểm toán nội bộ từ quy trình kiểm toán đến tính xác thực và độ tin cậy của các thông tin, các chỉ tiêu tài chính cũng như các đề xuất về cải tiến công tác quản lý tài chính, và đào tạo lại các cán bộ kiểm tra, kiểm toán theo tiêu chuẩn quốc tế.

Thực hiện nghiêm ngặt chế độ báo cáo tài chính, thống kê và các báo cáo khác theo quy định, hiện đại hoá thông tin quản lý (MIS) nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của việc xử lý thông tin.[16];[34];[35];[36];[37]

Tóm lại

Xúc tiến việc cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt động của các NHTMQD là nhu cầu bức xúc, khách quan của môi trường cạnh tranh và quy mô phát triển mới của thị trường tài chính Việt nam trong tiến trình toàn cầu hoá và sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nền kinh tế đất nước. Quy trình cải tiến vừa đảm bảo tính liên tục trong dòng chảy của mạch máu kinh tế, vừa nhanh chóng triển khai xây dựng chiến lược cải cách của từng NHTM theo những nội dung cơ bản như đã trình bày- trong đó những nội dung quan trọng nhất liên quan đén tổ chức và hoạt động chính là việc cải cách môi trường pháp lý, cơ cấu lại tài chính, tách bạch hoạt động tín dụng chính sách ra khỏi hoạt động thương mại, tổ chức lại hệ thống mạng lưới để quản lý theo cơ cấu nhóm khách hàng và loại dịch vụ, từng bước phát triển mạng thông tin hiện đại và tích cực đào tạo cũng như tái đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt và chuẩn bị đội ngũ kế cận đủ sức tiếp nhận công nghệ quản lý và kinh doanh trong môi trường cạnh tranh mới.

Kết luận

 

Với những chuyển động hết sức phức tạp trong khu vực ngân hàng và những yêu cầu bức thiết đặt ra cần phải có tổ chức để có thể đáp ứng được những thách thức của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập khu vực. Hệ thống ngân hàng của Việt nam cần phải có những bước chuyển mạnh mẽ hơn nữa, trong đó cần đặc biệt chú  trọng vai trò hướng đạo của các ngân hàng thương mại nhà nước trong toàn hệ thống. Hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế chỉ có thể đạt được thế cân bằng ổn định khi các ngân hàng thương mại nhà nước duy trì và phát huy được vai trò điều tiết của mình. Muốn vậy bản thân các ngân hàng thương mại nhà nước cũng cần phải có những cải tổ cấp tiến toàn diện và sâu sắc hơn nữa trên tất cả các lĩnh vực tài chính, nhân sự, quản lý, hạch toán, kiểm toán và chiến lược kinh doanh…

Bên cạnh đó để duy trì được một hệ thống tài chính lành mạnh, nhất thiết cũng cần phải có nhiều biện pháp tháo gỡ mạnh  mẽ hơn nữa từ phía các cơ quan quản lý hành chính, mà cụ thể là ngân hàng Trung ương nhằm từng bước nâng cao và phát huy được khả năng cạnh tranh bền vững cho hệ thống ngân hàng trước các thách thức to lớn ngày càng đến gần trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Dịch vụ làm thuê luận văn thạc sĩ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *