VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Like để cảm ơn người viết

1. Li nói đầu

Thập kỷ vừa qua là một thập kỷ của những điều chỉnh cơ cấu và những biến đối chính trị sâu sắc. Vấn đề vai trò của nhà nước và thị trường trong quá trình phát triển đã là một chủ đề trung tâm trong các cuộc thảo luận rộng rãi về phát triển. Trong điều kiện toàn cầu hóa các nhà lãnh đạo và các nhà lý luận đều khẳng định vai trò kết hợp quản lý nhà nước với điều tiết của thị trường. Có thể nói, tình hình đó đã đặt lên vai các nhà nước, dân tộc nhiệm vụ không chỉ là “người lính” bảo vệ trật tự xã hội và an ninh quốc gia, mà còn là người hiểu biết quy luật vận động và phát triển của nền sản xuất xã hội, nắm vững và dự báo được các diễn biến kinh tế trong và ngoài nước, có khả năng sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thể chế hoá các chủ trương chính sách kinh tế thành hệ thống các luật, các quy chế đồng bộ để trực tiếp tác động, khống chế, điều tiết các hoạt động kinh tế, định hướng sự phát triển của các ngành, các vùng, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế để bảo đảm yêu cầu thăng bằng – cân đối trong sự phát triển do chính các quy luật và tính quy luật khách quan của đời sống kinh tế – xã hội quy định. Có thể khẳng định rằng, yêu cầu của thăng bằng – cân đối trong sự phát triển của nền kinh tế là cơ sở khách quan, sâu xa của vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước.

 Không một xã hội nào chỉ phó mặc cho nhà nước hoặc cho thị trường. Một xã hội với những tổ chức nhiều tầng và những nhóm lợi ích khác nhau chứa đựng một khía cạnh căn bản là để phát triển, đòi hỏi phải có dân chủ và tôn trọng quyền con người.

Nghiên cứu về vai trò của nhà nước và thị trường trong nền kinh tế của các nước đang phát triển là cả một quá trình liên tục, trong đó giải pháp ở mỗi nước một khác tùy theo những điều kiện cụ thể. Sự can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế có cơ sở thực tiễn từ tính hai mặt của cơ chế thị trường.

2. Tính chất hai mặt của cơ chế thị trường – cơ sở khách quan của hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế

Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều hình thái phát triển khác nhau: kinh tế hái lượm, săn bắt, kinh tế du canh, du cư, kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường. Các hình thái kinh tế này ra đời, tồn tại, phát triển và mất đi vị trí của mình cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa ở đó hầu hết các sản phẩm mà con người tạo ra đều trở thành hàng hóa.

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế hàng hóa và các quy luật kinh tế vận động trong môi trường tự do cạnh tranh và tự do lưu thông. Kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao sẽ tạo ra xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa lực lượng sản xuất từ đó nó kích thích nhiều động lực to lớn cho kinh tế các nước phát triển. Ngày nay, cơ chế thị trường với xu hướng quốc tế hóa lực lượng sản xuất đang là một xu thế phát triển mạnh mẽ và tạo ra những khả năng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là đối với một số nước chậm phát triển như Lào, Campuchia và Việt Nam. Tuy vậy, bản thân cơ chế thị trường cũng hàm chứa hai mặt: tích cực và tiêu cực. Hai mặt đó luôn luôn ở trong một thể thống nhất và chuyển hóa cho nhau.

Tùy theo mức độ điều tiết của các chủ thể tham gia hoạt động thị trường mà mặt tích cực hay mặt tiêu cực được thể hiện rõ nét hơn trong thực tiễn. Tính hai mặt của cơ chế thị trường biểu hiện ra ở những nét sau đây:

a) Mt tích cc ca cơ chế th trường

* Quan hệ cơ bản trong cơ chế thị trường

+ Tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của thị trường. Cơ chế thị trường tạo cho mọi người tự do kinh doanh theo pháp luật, chơi trên một sân chơi bình đẳng. Đây là thể hiện một chế độ dân chủ và tự do hóa, trước hết là về kinh tế, đảm bảo cho mọi người có vốn, có sức, có tài kinh doanh và quản lý được tự do lựa chọn phương án sản phẩm, lựa chọn thị trường, lựa chọn đối tác và bạn hàng, tự do quyết định giá cả và tự do quyết định mua – bán, mở rộng hay thu hẹp sản xuất kinh doanh, nói tóm lại là tự do chọn phương án kinh doanh theo tín hiệu của thị trường, đi đôi với nó là tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.

+ Tự do cạnh tranh nó sẽ kích thích các nhà kinh doanh cải tiến sản xuất, kỹ thuật, công nghệ, cải tiến mặt hàng nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận…

Có thể khẳng định rằng, nói đến kinh tế thị trường là nói tới tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, và nếu thiếu hai cái đó thì sẽ không có kinh tế thị trường và kinh tế không thể ổn định và phát triển được.

+ Quan h cung – cu và giá c là quan h cơ bn ca kinh tế th trường. Đây là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó quan hệ chặt chẽ với vấn đề cạnh tranh, tự do cạnh tranh và đồng tiền. Ở đây ta chỉ xét tác động tích cực và mặt hạn chế của quan hệ cung – cầu và giá cả. Cung – cầu quyết định giá cả, buộc người kinh doanh và người tiêu dùng phải nắm tình hình cung – cầu để tự điều tiết sản xuất và tiêu dùng của mình, đây cũng là cơ chế tự điều tiết của thị trường. Thông qua giá cả người ta có thể biết được quan hệ cung – cầu chứ không phải là sự áp đặt của một cơ quan kế hoạch ấn định cho mức tiêu dùng của từng cá nhân để từ đó mà tính toán cân đối phần cung, tức là phải sản xuất bao nhiêu, rồi phân phối bằng hiện vật. Như vậy, thị trường quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai, tuy nhiên cơ quan kế hoạch cũng có thể nắm bắt tín hiệu của thị trường qua quan hệ cung – cầu và giá cả mà định hướng kế hoạch kinh tế cho phù hợp, chứ không thể thay thế hoàn toàn cho sự tự động và điều tiết của thị trường.

* Những tác động tích cực của cơ chế thị trường.

+ Cơ chế th trường to ra nhng động lc cho tăng trưởng và phát trin kinh tế. Trong kinh tế thị trường, mối quan hệ và tác động qua lại giữa cầu và cung có ý nghĩa quan trọng và có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển. Cầu tăng thì cung tăng, cung tăng lại kích thích cầu và qua đó mà kích cung, cứ như thế mà tác động qua lại và tạo nên một sự cân đối động để phát triển, đó cũng là tác động tự điều tiết của cơ chế thị trường.

Cơ chế thị trường đảm bảo cho mọi người có vốn, có sức, có tài kinh doanh và quản lý được tự do lựa chọn phương án sản phẩm, lựa chọn thị trường, lựa chọn đối tác và bạn hàng, quyết định giá cả và quyết định mua – bán, mở rộng hay thu hẹp sản xuất. Trong tự do cạnh tranh, người kinh doanh sẽ tìm mọi phương án tốt nhất để thắng đối thủ cạnh tranh, sản phẩm có chất lượng hơn, giá rẻ hơn, mua bán thuận tiện hơn và phục vụ khách hàng tốt hơn. Cơ chế thị trường cho phép khai thác tối ưu mọi nguồn lực của đất nước và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội và thúc đẩy các nhà kinh doanh không ngừng cải tiến mặt hàng và phương thức kinh doanh, từ việc đó đã làm cho kinh tế phát triển năng động.

+ Cơ chế th trường góp phn quan trng cho vic m rng phân công lao động xã hi và phân công lao động quc tế. Chuyển sang kinh tế thị trường, mọi thứ hàng hóa và dịch vụ đều được đánh giá một cách hợp lý thông qua giá cả thị trường. Đây là sự đánh giá khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ ai. Người bán luôn luôn muốn bán với giá cao, còn người mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp, nhưng trong quan hệ thị trường, người mua và người bán phải thỏa thuận với nhau về giá cả, và như vậy hàng hóa mới được thực hiện và cả người mua và người bán đều đạt được mục đích, có nghĩa là đều có lợi. Nói một cách rộng hơn, mọi hàng hóa đều được thị trường đánh giá khách quan bằng cách bỏ phiếu bằng đồng tiền cho nó, và giá cả thị trường là thước đo giá trị của hàng hóa chính xác nhất, qua đó người kinh doanh có thể nắm bắt được tín hiệu của thị trường để điều chỉnh phương án kinh doanh của mình có lợi nhất cho mình và do đó cũng có lợi nhất cho xã hội. Đó cũng là quá trình tự điều tiết của thị trường một cách linh hoạt, nhạy bén và tương đối chính xác mà không một cơ quan kế hoạch nào tài giỏi đến đâu có thể nắm bắt và xử lý quan hệ thị trường tốt như vậy. Quá trình tiền tệ hóa mọi sản phẩm hàng hóa cũng giúp người ta đơn giản hóa quá trình trao đổi, mua bán và giải quyết các quan hệ khác, có thể có tiền là có tất cả. Do tính chất đó của sản xuất hàng hóa của cơ chế thị trường nên người sản xuất phải sản xuất ra số hàng hóa cho người khác tiêu dùng, đến lượt người này lại sản xuất hàng hóa cho những người khác nữa, và như vậy các quy luật kinh tế hàng hóa càng ngày càng thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội. Cũng do bị thúc ép bởi cơ chế lợi nhuận và cơ chế thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh không chỉ bán hàng hóa trong phạm vi đất nước mà còn cố mở rộng “sân chơi” ra phạm vi quốc tế. Chính vì có động lực lớn như vậy cho nên nó thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế.

+ Cơ chế th trường còn góp phn xây dng mt chế độ xã hi da trên nguyên lý ca chế độ pháp quyn, ở đó pháp luật là chuẩn mực quan trọng nhất, quy định mọi hành vi của các chủ thể tham gia thị trường và các chủ thể khác trong xã hội.

+ Cơ chế th trường còn là động lc để xóa b nhanh chóng các tàn dư ca xã hi cũ, nhất là các tàn dư của xã hội phong kiến và của nền kinh tế gia trưởng tư nhân, tự cung tự cấp như ở CHDCND Lào.

b) Mt tiêu cc ca cơ chế th trường

Có thể khẳng định rằng, nói đến kinh tế thị trường là nói tới tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, và nếu thiếu hai cái đó thì sẽ không có kinh tế thị trường, và kinh tế không thể ổn định và phát triển được.

+ Nhưng tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh có mặt tiêu cực nhất định. Nhà kinh doanh được tự do lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh của mình theo tín hiệu của thị trường nên không thể có một kế hoạch dài hạn và có cơ sở vững chắc. Trong phạm vi một doanh nghiệp có thể có kế hoạch nhưng trong phạm vi một quốc gia hay cả thế giới nền kinh tế vẫn mang tính tự phát và thường xuyên gây ra khủng hoảng, cả khủng hoảng thừa và khủng hoảng thiếu, thất nghiệp, lạm phát, ô nhiễm môi trường sinh thái. Người ta đã ví các nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường như những người cận thị, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, không thể nhìn xa thấy rộng được và do đó không thể có chiến lược lâu dài và vững chắc được.

– Cạnh tranh sẽ dẫn tới độc quyền bao gồm độc quyền tự nhiên và độc quyền nhân tạo và điều đó có nghĩa là sẽ dẫn đến trì trệ.

– Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra sâu sắc vì trên thương trường sẽ có kẻ thắng, người thua, cá lớn nuốt cá bé và bất công xã hội.

– Do bị thúc ép bởi cơ chế lợi nhuận người ta kinh doanh bằng mọi cách, mọi biện pháp, kể cả những biện pháp không lành mạnh.

Trên thương trường không phải lúc nào cũng có cạnh tranh lành mạnh cơ chế cạnh tranh thường bị bóp méo dẫn tới hiện tượng tranh giành thiếu trung thực, làm thiệt hại tới người làm ăn chính đáng, lương thiện.

+ Các quan hệ hàng hóa – tiền tệ dễ dẫn con người tới chỗ sùng bái đồng tiền và dùng đồng tiền để giải quyết mọi quan hệ xã hội, kể cả quan hệ chính trị, pháp luật làm cho con người quên mất những phẩm giá về mặt tinh thần và văn hóa đẹp đẽ.

Cái nguy hiểm hơn nữa là do chạy theo đồng tiền người ta đã hành động bất chấp đạo lý và pháp luật. Nạn ma túy, mại dâm, lừa đảo, giết người, cướp của, tham nhũng, hối lộ v.v… đều bắt nguồn từ khát vọng đồng tiền, càng kiếm được nhiều tiền bọn tội phạm càng hăng say, khao khát như con thiêu thân lao vào lửa. Cũng do chạy theo đồng tiền mà con người bỏ quên mọi quan hệ tốt đẹp trong xã hội, kể cả quan hệ gia đình, vợ chồng, cha con, anh em, chưa nói đến quan hệ xã hội còn khá xa.

Tệ sùng bái đồng tiền luồn lách cả vào trong bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị, làm tha hóa con người có chức, có quyền, nếu không bị pháp luật trừng trị, tổ chức xử lý thì cũng đánh mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với họ, làm suy yếu nhà nước và hệ thống chính trị.

– Trong nền cơ chế thị trường, nhu cầu của người giàu thì quá cao trong khi đó cầu của người nghèo thì quá thấp và quá đơn giản. Cầu cao thì lợi nhuận sẽ cao, do đó số đông nhà kinh doanh thường chạy theo mốt hiện đại, vừa là nhu cầu của thị trường, vừa là xu thế của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ mà coi nhẹ việc đáp ứng cầu của tầng lớp nghèo. Tầng lớp nghèo không phải là không có cầu nhưng vì quá nghèo nên không có khả năng thanh toán để đáp ứng cầu của mình, do đó tạo nên sự mất cân đối cung – cầu trên thị trường và tạo nên sự chênh lệch quá mức và bất bình đẳng trong tiêu dùng.

– Về mặt cung, tức là về phía người sản xuất thì cũng tạo nên sự bất bình đẳng và lợi thế thuộc về người giàu, thế yếu thuộc về người nghèo là số đông. Người giàu có lợi thế về vốn, về công nghệ, về thị trường, về thông tin và quan hệ thị trường nên có khả năng đi vào các ngành có lợi, thu lợi nhuận cao. Còn người nghèo thì ít vốn, thiếu tri thức khoa học kỹ thuật và kinh doanh nên chỉ kinh doanh loại hàng truyền thống, đơn giản, ít có lời, lại phải cạnh tranh với nhau ngay trong tầng lớp nghèo của mình, thu lợi ít mà rủi ro thì nhiều,dễ bị thua lỗ. Đó là hoàn cảnh của nông dân khi chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường.

3. Vai trò và công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước trong cơ chế thị trường

Tính chất hai mặt của cơ chế thị trường, do quy luật nội tại của nó quy định. Tuy nhiên về phía chủ quan có thể phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực.

Quản lý nhà nước về kinh tế là vấn đề được đặt ra từ đầu thế kỷ XX này. Công cuộc đổi mới kinh tế ở CHDCND Lào trong hai thập kỷ qua chủ yếu tập trung vào vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế. Đó là quá trình phi tập trung hóa, việc phân định quyền sở hữu, với quyền sử dụng kể cả đất đai đã tạo cho các doanh nghiệp nhà nước, các hộ nông dân một động lực to lớn để phát triển. Các doanh nghiệp nhà nước, các hộ gia đình có quyền tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về kinh tế trong cơ chế thị trường ở Lào cũng đã vấp phải những trở ngại rất lớn do tính bất cập của cơ chế và bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Hiện tượng tham nhũng, làm thất thoát vốn của nhà nước ngày càng nghiêm trọng. Trước tình hình đó sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường không chỉ là chức năng quan trọng mà còn là một sự mệnh lệnh là trách nhiệm nặng nề trước nhân dân.

Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế bao hàm:

Mt là, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động ổn định.

Chuyển sang kinh tế thị trường và để kinh tế thị trường hoạt động ổn định, khâu cấp bách nhất là chống lạm phát, đổi mới cơ chế tiền tệ, tín dụng, tài chính hoạt động theo thông lệ của kinh tế thị trường để tạo ra đồng tiền thực, từ đó hình thành được lãi suất, tỷ giá thị trường, thu hút rộng rãi mọi nguồn vốn của xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngay nay chúng ta hiểu rằng, việc sử dụng một cách thận trọng quyền lực về tiền tệ và tài chính của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến sản lượng, việc làm và lạm phát. Quyền lực về tài chính của Nhà nước là quyền đánh thuế và chi tiêu. Quyền lực về tiền tệ bao hàm quyền điều tiết về tiền tệ và hệ thống ngân hàng để xác định mức lãi suất và điều kiện tín dụng. Bằng hai công cụ trung tâm này của chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nước có thể ảnh hưởng đến sản lượng, công ăn việc làm và giá cả của một nền kinh tế nhờ đó thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển. Nhà nước thực hiện chức năng trên đây thông qua ba công cụ: các loại thuế, các khoản chi tiêu và những quy định hay kiểm soát về tiền tệ. Thông qua thuế, Chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tư của tư nhân, khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nhân. Các khoản chi tiêu của Chính phủ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hóa hay dịch vụ, và cả những việc chuyển tiền nhằm trợ cấp thu nhập (như bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp…). Những quy định hay kiểm soát của chính phủ cũng nhằm hướng nhân dân đi vào hoặc từ bỏ những hoạt động kinh doanh.

Hai là, to lp tng bước để hình thành đồng b môi trường kinh tế th trường.

Chuyển sang kinh tế thị trường và để kinh tế thị trường ra đời, tồn tại, vận động, phát triển đòi hỏi phải có môi trường thích hợp. Nghĩa là nó đòi hỏi một môi trường đồng bộ, nhất quan, thống nhất phù hợp với sự tồn tại, phát triển của kinh tế thị trường. Môi trường đó gồm chính trị, kinh tế, pháp lý, tâm lý, văn hóa, xã hội… Vừa là chức năng quan trọng nhất, đồng thời vừa là chức nang phức tạp, khó nhất. Quan trọng nhất, vì nếu thiếu môi trường, thiếu điều kiện phù hợp, kinh tế thị trường khó có thể tồn tại, phát triển một cách có hiệu quả. Phức tạp và khó nhất, vì môi trường phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và nhất quán giữa các ngành cùng cấp, giữa các cấp cùng ngành, giữa các cấp các ngành. Ở nước ta hiện nay còn nhiều mâu thuẫn hay xảy ra trong chính sách QLNN về kinh tế giữa các ngành, các cấp. Điều đó làm giảm đáng kể vai trò chức năng QLNN về kinh tế trong việc tạo lập môi trường cho kinh tế thị trường.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *